« January 2012 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          

Doanh nhân có thể buôn chữ, nhưng chớ "bẻ chữ"!

Chung Trackbacks (0) góp ý (2)   

 

DOANH NHÂN CÓ THỂ BUÔN CHỮ,  NHƯNG CH    “BẺ” CHỮ!

 

      Năm 2007, công ti văn hoá Tràng An (Ct VHTA), liên kết với nhà xuất bản Đà Nẵng (nxb ĐN), in và phát hành cuốn Hoàng Hôn Pha Lê của tôi. Khi gửi bản thảo, tác giả đã tỏ ý: không tự tiện sửa chữa. Thế nhưng khi nhận được sách biếu, tác giả té ngửa ra. Hỏi vì sao có chuyện “biên tập” kì quặc như vậy, giám đốc công ti trả lời qua thư rằng có năm (5) chỗ trong bản thảo nhà xuất bản không chấp nhận:

     1. Đừng để cho những kẻ phản bội lại những người đã ngã xuống, những kẻ phè phỡn trên những kỉ niệm máu xương của cả một dân tộc chặn bước đi của mình và con cái chúng ta...

      - Câu này là suy tưởng của tác giả sau khi nghe băng từ ghi lời một liệt sĩ nhắn lại cho vợ con trong truyện Hành trình đêm giao thừa viết năm 1985, từng được đưa vào tuyển tập “Văn học Hải Phòng qua các giải thưởng”, năm 2005

       2. Thời bà Eva, Thượng đế là duy nhất. Thời nay, Thượng đế lại nhiều, không chỉ vì “nhân dân” là chủ”. Những ông “đầy tớ dân” còn “thượng đế” hơn cả Thượng đế, thực sự và chánh hiệu.

        - Đoạn này nằm trong truyện Tội lỗi nguyên thuỷ, đã đăng trong tạp chí Văn tháng 9-1996 (nhà văn “chính thống” Anh Đức làm  tổng biên tập).

        3. Cái sự biết xấu hổ không đáng xấu hổ. Từ xưa đến nay, biết bao người làm càn, mọt dân hại nước, người ta kêu, người ta chửi, mà vẫn cứ lì ra đấy ư? Biết xấu hổ thì dạy cho ra dạy, làm cho ra làm, lãnh đạo cho ra lãnh đạo.

-  Các câu này là lời bàn luận của nhân vật, cũng nằm trong truyện ngắn nói trên.

         4. Do đâu mà chỉ có đồng lương chết đói? Sản xuất đã kém mà bọn mọt dân và bọn phe phẩy đã đục khoét nửa tổng sản phẩm xã hội ...

        - Các câu này là lời tranh cãi của một nhân vật nằm trong truyện Cái Hạt, đã in trong tạp chí Văn Nghệ Quân Đọi số 6-1988.

         5. Xưa kia anh chiến đấu và ngã xuống cho niềm tin mà tiền của và bom đạn của đế quốc Mĩ hùng cưòng không tiêu diệt nổi. Mà nay chúng nó từng tí một, từng tí một đã và đang phá niềm tin, phá đất nước này. Lũ mối đục khoét thân đê, chỉ lo cho thân xác chúng, cho cái ổ của chúng, đâu biết rằng đê mà vỡ thì cái ổ của chúng cũng đi đời. Phải chăng chỉ lũ côn trùng sâu bọ mới không có đầu óc để nghĩ?

          Sẽ đến ngày... Chẳng cần Chúa làm người phán xử cuối cùng, mà cũng chẳng có Ngày tận thế.

          - Đây là bộc lộ nội tâm của nhân vật chính, vợ liệt sĩ, có con trai bị tù oan và bị dồn đến bước đường cùng, ở cuối truyện ngắn nói trên.

          *. Và (đúng ra là 6 chỗ chứ không phải 5) từ “lương thiện” trong câu đề từ dưới tiêu đề truyện ngắn Những người làm chứng: “Tặng những trí thức lương thiện” (được nhà phát hành đổi thành “chân chính”, một tính từ “sang” nhưng sáo mòn chẳng nói gì nhiều!)

         - Cái từ “lương thiện” bị “kị” này vẫn được đưa vào ngon lành cùng câu đề từ trong tập truyện Nợ Trần cách nay chưa lâu!

         [Vậy đó, những chỗ mà giám đốc Ct VHTA cho là khó dung (mà tác giả diễn ra là “phạm huý” –trong ngoặc kép) đều đã được trình làng công khai, coi như đã dược kiểm duyệt rồi, thoát “vòng kim cô” rồi! Sau này, ông giám đốc Ct nói: “Mỗi nơi có luật lệ riêng”(!), có nghĩa là dẫu lọt “vòng” kia còn “vòng” này! Ông ta còn bảo: đã in ở sách báo nào cũng “không cần biết”(!)]

          Nhưng nào chỉ có thế! Đọc cả cuốn sách thấy nhan nhản những chỗ thêm, bớt, sửa, không chỉ riêng từ, mà cả câu, đoạn câu, thậm chí đoạn văn dài. Chỉ có thể dẫn chứng ra đây một vài chỗ.

        # + Đoạn cuối của truyện ngắn “Hành trình đêm giao thừa”, gần hai trang in chữ nhỏ khổ 13x19, bị biên tập viên (btv) thay đổi hoàn toàn từ bố cục, cách hành văn, ý tứ, câu chữ, nghĩa là viết lại hoàn toàn bất chấp văn phong và cách tạo ý của tác giả. Có những chỗ sửa “nhẹ” mà  cũng  “đau”. Ví như:

          - “Trời lạnh hơn, song khí vị thanh tân nhẹ lâng của năm sớm đang dâng lên, tin rằng sẽ mơn giấc ngủ của mẹ con chị” được (bị) thay bằng câu văn khoa trương và sáo: “Trời lạnh hơn. Song khí vị thanh tân nhẹ lâng của năm sớm đang dâng lên, mang đến cho mẹ con chị một cảm giác khoan khoái lạ thường. Tin rằng, trong giấc ngủ lấy sức ngắn ngủi ngay sau đó là một giấc mơ đầy hoa thơm và lộc biếc đã đến với mẹ con chị”.

          - “Không có bom đạn của kẻ thù thì em cũng đã phải chịu đựng nhiều rồi” (tác giả muốn nói: giả sử không có chiến tranh phá hoại của Mĩ thì người vợ cũng đã phải chịu đựng nhiều thứ khác, trong đó có sự đơn chiếc, nỗi nhớ thương, - người chồng rất thông cảm với vợ) đã “được biên tập” như sau: “Dù không trực tiếp với bom đạn kẻ thù thì em cũng phải chịu đựng gian khổ nhiều rồi” (“trực tiếp với bom đạn” thế nào  đây? chỉ chịu gian khổ thôi sao! –trái hẳn với văn cảnh của truyện).

          Dưới đây là đoạn kết của truyện (chừng một phần ba đoạn cuối của truyện mà btv viết lại hoàn toàn; những câu màu xanh là những chỗ bị cắt bỏ hoàn toàn):

       " Mỗi lần Tết đến, đón giao thừa xong, chị lại mở nghe tiếng nói của anh từ quá khứ xa xôi như từ một mảnh đất phương nam anh đã chiến đấu và ngã xuống - mảnh đất mà dù đã tốn bao công sức chị vẫn chưa lần ra - vọng về.

       - Ngoài ấy rồi sẽ còn ác liệt hơn đấy em ạ. Không có bom đạn kẻ thù thì em cũng đã phải chịu đựng nhiều rồi. Nếu anh không về nữa…

       Giao thừa năm ấy, giá như Yến không dám đi, hoặc đi không trọn hành trình thì những năm tháng sau đó sẽ nặng nề đối với chị biết bao nhiêu!

       - Nhớ thương anh, em hãy mường tượng rằng anh đang ở đâu đó mỉm cười dõi theo mỗi bước đi tới của những người thân.

       Tôi trở về nhà ngồi trước trang viết của mình: "Đừng để cho những kẻ phản bội lại những người đã ngã xuống, những kẻ phè phỡn trên những kỉ niệm máu xương của cả một dân tộc chặn bước đi tới của mình và con cái chúng ta, nghe em!" Hừm! Những người dám hi sinh chẳng ai đã nghĩ thế. Tôi cầm bút. Nhưng đáng lẽ gạch bỏ, tôi chỉ khoanh lại. Phải có ai đó nghĩ như thế chứ! Song le, trong phác thảo truyện của tôi, chưa có nhân vật nào đủ tư cách nói lên câu ấy. Tôi cắn đầu bút nhìn ra trời đêm. Những ai làm cuộc hành trình đêm nay?

        Ngoài kia không gian lạnh. Đêm trở giấc. Khói pháo còn vương vất. Khói pháo thơm và ấm, không như khói súng và khói bom."

        Ít có nơi đâu biên tập viên được phép tự tiện và tuỳ tiện chữa văn cả một đoạn rất dài, bất chấp văn phong và bút pháp của tác giả.

        #  Dưới đây là vài dẫn chứng về chữa câu.

       + Mấy dồng ở “3” trên kia (“Cái sự biết xấu hổ không đáng xấu hổ. ...  lãnh đạo cho ra lãnh đạo”) đã bị sửa thành: “... Chỉ những  kẻ, dù ở bất cứ cương vị nào mà dựa dẫm, ỉ lại vô trách nhiệm, thậm chí còn tham ô tham nhũng, xâm hại lợi ích của dân của nước thi mới đáng xấu hổ. Ai trong chúng ta biết xấu hổ...”

        -Như vậy là biến một câu văn dạng chính luận thành một câu thuyết giảng chính trị lòng thòng.

       + (đoạn trên là: “Bỗng đại diện cấp trên đùng đùng đứng lên trỏ tay: ‘-Các đồng chí hãy nhìn mặt anh ta kìa! [ ... ] Tôi đề nghị chấm dứt cuộc họp tại đây’.(xuống dòng). Khốn khổ cho chính anh! Anh hơi hô răng, khi anh mải nghĩ để môi trên hé ra thì nom như nhếch cười”, tiếp đó là) “Vi đại diện cấp trên vẫn “quan tâm” anh rất sát đã không chịu nổi” bị sửa thành: “Vị đại diện cấp trên theo dõi anh rất sát đã ác cảm đến mức không chịu nổi”.

        - Btv đã không hiểu hàm ý “quan tâm” (trong ngoặc kép) nên thay bằng “theo dõi”, lại phải nói chẻ hoe ra “ác cảm đến mức”, chắc là sợ người đọc không cảm nhận được(!). Mà “không chịu nổi” đâu chỉ bao hàm có “ác cảm” trong tình huống của đoạn văn!  

        + “..., một sự “thất thoát” lớn mà rồi các cấp trên cũ của y lẽ ra phải đau buồn lắm lại có người thở phào, nhẹ người” bị sửa thành “... một sự “thất thoát” lớn như thếcó người trong số các lãnh đạo của y lại thở phào nhẹ nhõm”.

       -Tác giả nhấn mạnh “lẽ ra phải đau buồn lắm” và “nhẹ người” là có dụng ý nói đến những kẻ cấp trên đồng pham, cả trong hơi văn.

+ v.v...

        #  Rất nhiều chỗ, chẳng còn có thể hiểu btv ra sao!

       + “vận may không cười với tôi nữa” được biên tập là “một vận hạn không cười được nữa đến với tôi”.

      + (chỉ cần cấp trên “nhân tiện nói thêm”) “cũng đủ để các bộ phận khoa giáo, an ninh phải động” được biên tập là “cũng đủ để bộ phận khoa giáo, an ninh nghi là phản động” .

       + “đã có lần đi tù hình sự” được biên tập là “đã có lần phạm luật hình sự, phải tù

       +  v.v...

         #  Rất nhiều chỗ tự tiện thay đổi, cắt bớt hoặc thêm thắt vào làm lạc ý hoặc hỏng câu văn:

      + (lấy của công mua ngà voi đem ra nước ngoài làm quà tặng) “việc đó không những là hành vi tham nhũng, buôn lậu mà còn phạm luật bảo vệ động vật quí hiếm” được đổi thành “ việc đó không những là hành vi tham nhũng, buôn lậu mà còn phạm pháp

     - Vậy ra tham nhuĩng, buôn lậu chẳng phải là phạm pháp! (gạt bỏ một ý để thay vào một lời thừa!)

      + (Chị vợ được yêu cầu nhắn một câu ghi vào băng từ gửi cho chồng) “Yến bậm môi, rồi “liều” một câu mà ngay sau đó chị chẳng vừa ý chút nào.”, btv thêm vào trong ngoặc đơn “(vì hình như đó không phải lời động viên mà chỉ là bày tỏ một nỗi lòng thương nhớ?)”

      -Trời ơi! Btv cẩn thận thật! giành hết “đất” hình dung của độc giả, lại sợ họ kém quan điểm, lập trường nên phải giải thích thêm như thế!

      + Dẫn chứng trên là “thêm”, còn dưới đây là một dẫn chứng về “bớt”:

      (Hai nhân vật bị đuổi khỏi ngành giáo dục vì tội làm “nghệ thuật đồi truỵ” trao đổi với nhau trước khi chia tay):

        - ...

       - Cảm ơn anh. Tôi chẳng có gì nhiều để lựa chọn. Song, tôi không muốn để mọi người có thể nghĩ rằng chúng ta bị như thế này là đáng đời (Cuối câu này, btv sửa lại: “chúng ta như thế tội lỗi và đáng đời).

       - Chị tin rằng có người quan tâm đến số phận chúng ta ư?

      - Người bình thường dẫu có quan tâm thì cũng chẳng thể làm gì. Nhưng cũng nên để cho lương tâm họ còn có chỗ để tin vào những điều tốt đẹp.

       Hai câu đối thoại cuối bị xoá bỏ, xoá bỏ luôn những ý ngầm gửi gắm trong đó có liên quan đến cả đoạn văn.

       + v.v...

         #  Làm sai lạc câu văn thì có khi chỉ cần một từ.

         + Thay từ khác vì không hiểu từ hoặc không nắm văn cảnh:

-  “làm đậy” thay bằng “làm vá víu

-  “giao đãi” thay bằng “xã giao

-   “bẻ bai” thay bằng “bẽ bàng

-   “quẳng nhẹm mọi thứ” thay bằng “quẳng lại mọi thứ”

-  “làm thằng bảo vệ” đổi ra “làm chân bảo vệ” (đây là lời một nhân vật không tử tế lắm đang mắng một nhân vật khác)

-  “can phạm” (người đã bị tuyên án rồi) đổi ra “bị cáo

- v.v...

         +  Không hiểu dụng ý của tác giả nên thay đổi hoặc thêm bớt (Rõ là: -Viết văn chớ có tự ý dùng từ theo cách của mình, hãy cố mà gò theo hơi văn học đường của btv nhá! Trên kia đã rất nhiều trường hợp “pham qui” rồi(!)):

- “quân giặc nước” thành “quân giặc trong nước”.

- “lời mơ của bọn làm thơ các anh” thêm vào thành “lời mơ mộng...”

- “bình minh gượng” thay bằng “bình minh bờn bợt”.

- "chthoáng lo ngại" đổi thành "chị đồng cảm và lo ngại" (btv không biết đến trạng huống, tính cách nhân vật,...)

- v.v...

          + Nhiều khi chẳng biết vì lẽ gì mà btv thay đỏi hay thêm bớt. Dường như biên tập là phải thế, vậy thôi!

- “Con người ấy /.../, ít hiểu đời, không biết cách sống”; btv thêm vào “...  không biết cách sống hoà nhập” (Rõ ra thich “thời sự hoá” ngôn từ!)

- “người cha hởi lòng khoe với mọi người...” sửa thành “người cha hởi lòng khen trước mọi ngưòi...”

- v.v...

         Thật là kể không xuể. Rõ ràng là btv không tôn trọng tác giả và quá tự tin nên “png bút” như vậy. Có đên hàng trăm chỗ “sửa chữa” như thế từ nhỏ đến lớn!

         Tác giả thương cho “đứa con tinh thần” của mình quá, viết thư và gọi điện cho ông N. Đ.H. tổng biên tập nxb thì được trả lời rằng không phải do btv của nxb. Còn ông Bùi Phúc Hải, giám đóc Ct VHTA, người từng khoe đã in thơ, ban đầu nói qua thư là “ những sai sót vì nhiều lí do của người làm công tác xuất bản, in ấn để lại” và những cái liên quan đến nội dung “thuộc về thẩm quyền của nxb”; còn phần mình “những sai sót nào thuộc về em, em xin lỗi bác và em hứa sẽ khắc phục khi tái bản”. Để chuẩn bị cho việc tái bản cuốn sách, ông Hải gửi qua bưu điện cho tác giả tập bản in cuốn sách trên giấy khổ A4 để tác giả có rộng chỗ hiệu chỉnh theo ý mình. Tác giả mất nhiều thời gian và công sức sửa xong, gửi cho ông H. mà mãi chẳng thấy tái bản. Hỏi, lúc thì ông ta nói còn chờ xin lại giấy phép của nxb, lúc thì bảo còn rất bận. Rồi đến một lúc ông ta bảo tác giả phải “mua giúp” năm trăm (500) cuốn thì mới tái bản được. Tác giả nói: việc tái bản này là Ct TA sửa sai việc xâm phạm tác phẩm do tự tiện biên tập. Đến lúc này ông giám đốc mới “tỏ ý thật” (vẫn dùng lời lẽ mềm dẻo, nhã nhặn) gián tiếp thừa nhận chính nhà phát hành đã tự biên tập cuốn sách. Ông ta, một mặt nhắc lại 5 chỗ “phạm huý”, mặt khác đưa dẫn chứng mấy chỗ biên tập mà ông ta cho là không sai. [Phải đích thân là người đã biên tập nên mới dụng công cãi quẩn như thế!]. Tác giả đã trả lời ông ta, nêu ra những chỗ ông trích sai, những chỗ ông nguỵ biện, ông bỏ qua văn cảnh, không lưu tâm chỗ nào câu văn là tự sự, miêu tả, triết luận, ..., không chú ý đến câu đối thoại của các nhân vật khác nhau, không hiểu ý tác giả hoặc câu, từ, v.v... Vậy là việc tái bản bị lờ luôn. Không một lời đáp lại tác giả, nhưng ông ta làm một việc khó hiểu là công bố thư trao đỏi với tác giả lên trang mạng của công ti, chẳng trao đổi trước với tác giả, mà cũng không công bố thư tác giả phân tích những bất cập trong thư của ông ta; gia dĩ trong thư ông ta đưa lên mạng, đổi lời nhiều, nhưng vẫn y nguyên những chỗ trích sai lại còn tải thêm những ý mới để hạ “đối tác”, (-đáng buồn là chuyển lời lẽ rất nhũn nhặn “dễ thương”! kiểu như “bác nhé”, nhưng lại nhiều thâm ý. Chẳng hạn, đưa ý kiến một người, mà ông Hải chú thích là “bạn thân” của tác giả, nhận xét những câu văn của tác giả “yếu kém về mọi phương diện”!)

        Sự việc chẳng đáng để đến người khác bận tâm như vậy. Chẳng lẽ đây là thuật làm ăn của doanh nhân?! Buôn chữ, chứ đừng “bẻ chữ”! Sự thật, phát hành đâu có chức năng biên tập! Cuối các cuốn sách, ghi ai biên tập? Và, đừng bẻ chân lí!

       Trong những chuyện đăng, in tác phẩm, các tác giả luôn luôn lép vế, và người viết bài này rất biết "phận" n  ày.  Song, chẳng lẽ cứ im chịu trận!

 

16-01-2012

 

      Khải Nguyên

Giấc mộng AQ (tiếp)

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

GIẤC MỘNG CỦA CHÚ AQ

(tiếp theo)

 

GIẤC MỘNG LỚN THỨ NHẤT

 

CẢNH MỘT: Một chùm ánh sáng rọi vào chỗ AQ đang nằm ngủ. Y thoát xác đứng lên (xác y vẫn nằm lại). Sân khấu rạng dần. Y thất thểu đi, nhìn ngơ ngác, lảm bẩm: “Giờ là lúc nào nhỉ?”

        TIẾNG VỌNG: -Tào Tháo và Trần Cung đang từ nhà Lã Bá Sa đi ra đấy.

(AQ vội nấp vào một chỗ. Chỗ AQ nằm tối lại. Tào Tháo và Trần Cung hấp tấp đi vào).

        TRẦN CUNG: -Tào Mạnh Đức! Ông đa nghi thật! Ông cuốn tôi vào một cuộc tắm máu. Làm sao họ bàn nhau giết hai con lợn để thết đãi chúng ta mà ông lại nghĩ ra là họ định thịt hai ta? Ông và tôi thì khác xa hai con lợn chứ!

        TÀO THÁO: -“Diệt trước để ngừa hoạ sau”. Giết lầm còn hơn bỏ sót!

        TRẦN CUNG; -Nhưng có đáng ra tay không?

        TÀO THÁO: -Nguyên cái việc chúng bàn bạc thầm thụt sau lưng chúng ta trong lúc chúng ta đứng ngồi không yên là chúng đáng mang vạ vào thân rồi. Mà cái ông Lã Bá Sa sao không sai đầy tớ đi, lại tự mình đi mua rượu?

        TRẦN CUNG (thở dài): -Rõ thất lòng thành chưa đủ dể quỉ thần chiếu cố!

        TÀO THÁO: -Ông ta định thết đãi mà không hỏi ý kiến trước. Điều đó chứng tỏ ông ta coi chúng ta chẳng ra gì cả. Biết đâu nếu chúng ta mà “nhẫn nhịn” thì rồi ông ta sẽ “kiên trì chống chúng ta”.

        TRẦN CUNG: -Nhưng ông ấy rất sùng bái chúng ta kia mà.

        TÀO THÁO: -Có thể đến một lúc nào đó lão sẽ không sùng bái nữa.

        TRẦN CUNG: -Để đến cái nứớc ấy là lỗi của chúng ta.

        TÀO THÁO: -Người mưu việc lớn không bao giờ được nghĩ dến lỗi của mình.

        TRẦN CUNG: -Thế thì thế nào là tu thân để tiến tới bình thiên hạ?

        TÀO THÁO (cười lớn): -Chẳng nhẽ Trần tiên sinh chưa rõ ý thật của tu, tề, trị, bình? Tu thân phải hiểu là rèn mình chứ không phải là sửa mình.

        TRẦN CUNG: -Rèn mình cho cơ trí, chứ không tàn bạo.

        TÀO THÁO: -Cơ trí là phải nham hiểm. Mà nham hiểm và tàn bạo là anh em sinh đôi. Tiên sinh tự phỉnh mình và phỉnh người làm gì? Nhưng thôi, tiên sinh hãy im đi! Lã Bá Sa về kia. Lão quay về lúc này chẳng hợp lí chút nào cả.

        LÃ BÁ SA (quẩy bầu rượu,vội vàng đi tới, vồn vã): -Tôi đi lùng mãi mới mua được rượu. Trần tiên sinh và Tào hiền điệt đi đâu đấy? Sao lại mang cả khăn gói?

        TÀO THÁO: -Chúng cháu không thể ở lâu được. Xin bác để cho dịp khác.

        LÃ BÁ SA: -Sao vội quá thế? Cha cháu với bác là bạn chí thiết. Hôm nay bác phải mở đại tiệc mừng cháu thoát nạn và tạ ơn Trần tiên sinh đã cứu cho họ Tào nhà cháu khỏi tuyệt tự.

        TÀO THÁO: -Cháu rất cảm kích trước chân tình của bác. Nhưng quả thật cháu không thể nán lại được. Nghe đồn quân Đổng Trác sắp kéo đến vùng này. Bọn cháu ở lại nguy hiểm đã đành mà có thể gây vạ lây cho cả gia đình bác.    

        LÃ BÁ SA: -Quân Đổng Trác sắp kéo đến? Thôi thì cháu và Trần tiên sinh hãy tìm cách thoát đi. Lão không dám giữ, e nhỡ việc của hai người. (Đưa bầu rượu) Cháu hãy cầm lấy bầu rượu này. Trời lạnh mà.

        TÀO THÁO: -Đa tạ bác. Kính bác lại nhà vạn phúc.

        (Hai bên tạ từ chia tay. Lã Bá Sa dùng dằng muốn đứng lại nhìn tiễn. Tào Tháo chỉ tay về phía sau lưng Lã Bá Sa kêu lên) Có ai đến kìa!

        (Lã Bá Sa giật mình quay nhìn lại. Tháo rút gươm chém chết ông ta).

        TRẦN CUNG: -Ông làm gì thế? Giết cả nhà người ta chưa đủ hay sao? Nay lại nhẫn tâm vậy!

        TÀO THÁO: -Bá Sa về nhà thấy cơ sự có thể đi báo quan quân đuổi bắt chúng ta. “Thà mình phụ người trước còn hơn để người phụ mình trước”. Hơn nữa để lão vò võ một mình làm gì cho thêm khổ thân lão.

        TRẦN CUNG (mặt biến sắc, nhìn kĩ Tào Tháo, rồi trỏ tay vào hai ngả đường trước mặt) Đây đã là ngã ba. Thôi, ông rẽ một phía, tôi đi một phía.

        TÀO THÁO: -À, ra thế! Ông đã có ý. Thế cũng là sòng phẳng. Tôi cứ nghĩ là tôi vẫn mang ơn cứu mạng của ông. (Nghiêng mình thi lễ) Mời ông cất bước trước!

        TRẦN CUNG: -Ông rẽ trước đi! Tôi không quen chém trộm đâu.

        TÀO THÁO (cười): -Nhưng lại sợ tôi chém trộm chứ gì. Thôi được! chúng ta cùng đi giật lùi một đoạn.

        (Tào Tháo bắt đầu đi giật lùi. Trần Cung nhìn một chút rồi quay lưng đi thẳng không ngoái cổ lại. Tào Tháo đưa tay nắm đôc gươm nhíu mày mhìn theo, rồi gật gật đầu, bỏ tay xuống)

        Ngươi chỉ gờm ta thôi, chứ ngươi chẳng đụt đâu. Dễ mềm lòng thì khó mà có chỗ đứng trong Hoa hạ, nói gì thâu tóm thiên hạ. Nhưng chớ có dại mà đứng ngáng đường ta! Ơn ngươi nhất thời mà chí ta ở vạn đại. AQ đâu! Đi cách cái mạng lão Đổng Trác đi! Nhưng chớ có đi theo giặc khăn vàng!

        (Sân khấu vụt tối. Ánh sáng dồn vào chỗ AQ đang nằm ngủ. AQ ngóc đầu “dạ” to một tiếng, rồi vẫn tiếp tục ngủ. Ánh sáng tắt hết.)

 

CẢNH HAI: Một chốc, ánh sáng rọi vào chỗ AQ ngủ. Y  lại thoát xác đứng lên, nghiêng ngó: “Ủa, mà này... Nơi nào mà rờn rợn thế này?”

        TIẾNG VỌNG: -Nhị Thế hoàng đế nhà Tần đang lâm triều.

        (Sáng toàn sân khấu, trừ chỗ AQ. Sân khấu kê thêm một cái ghế trên bệ cao để làm cảnh triều dình nhà Tần. Hồ  Hợi, tức Tần Nhị thế, ngồi trên ngai. Đứng bên hữu có Triệu Cao, bên tả có quan thái phó. Đứng dàn hai hàng tả hữu phía trước là các quan triều thần).

        TRIỆU CAO:-Thị vệ đâu! Dắt con ngựa vào dể thiên tử ngự lãm!

        (Một thị vệ đưa con hươu vào)

        HỒ HỢI (ngơ ngác nhìn con hươu, rồi bỗng cười to): -Kha, kha,... , Triệu thừa tướng mải việc triều đình nên đâm ra lú lẫn chăng! Con hươu đấy chứ!

        TRIỆU CAO: -Tâu bệ hạ, thần nghĩ đó là con ngựa.

        HỒ HỢI (hoài nghi, nhìn khắp triều thần): -Các khanh bảo con gì đây?

        (Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai dám lên tiếng trước)

        TRIỆU CAO: -Xin thánh thượng hãy hỏi từng người một cho minh bách.

        HỒ HỢI: -Thái phó, khanh hãy cho trẫm hay!

        THÁI PHÓ (liếc nhìn Triệu Cao rồi nói nhanh): -Muôn tâu, có dễ là con ngựa.

        HỒ HỢI (càng ngơ ngác, hỏi sang người khác): - Còn khanh?

        TRIỀU THẦN (ngập ngừng): -Muôn tâu, con... ngựa ạ.

        (Hồ Hợi tiếp tục hỏi. Đến người nào Triệu Cao nhìn chằm chằm vào mặt người đó. Họ lần lượt trả lời là “con ngựa” với những dáng vẻ khác nhau: kẻ xoa tay, cúi đầu khúm núm; kẻ xun xoe; kẻ nhanh nhảu; kẻ bối rối; kẻ ngượng ngập; kẻ gượng gạo;... Đến lượt một quan thị)

        QUAN THỊ: -Dạ, muôn tâu, thần vào hầu hạ trong cung từ bé ít khi ra ngoài nên chỉ mới tiếp xúc với con chó, con mèo. Con vật này, thần chưa trông thấy bao giờ.

        (Trong các triều thần, có người cười tủm. Triệu Cao cau mày. Đến lượt quan đình uý)

        ĐÌNH UÝ: -Dạ, muôn tâu, cho nó là hươu thì là con hươu, cho nó là ngựa thì là con ngựa. Bởi, như một nhà hiền triết đã nói: “Bạch mã phi mã”(6) ạ.

        (Triệu Cao lim dim mắt, môi mím lại. Đến lượt một triều thần già)

        TRIỀU THẦN GIÀ: -Muôn tâu, thần mắt kém nên không trông rõ ra con gì.

        TRIẸU CAO: -Thánh thượng cho ông lại gần sờ xem đấy.

        TRIỀU THẦN GIÀ: -Dạ, tôi sợ nó húc. Lộc con này hoá gạc rồi.

        (Chợt quan đô uý bước ra)

        ĐÔ UÝ (đứng thẳng người, nói lớn): -Sao các quan dám sàm tấu trước long nhan? Rõ ràng là con hươu mà lại dám bảo là con ngựa! (quay sang viên quan thị) Hôm vừa rồi tôi gặp ông cho người mang con hươu này từ chợ Hàm Dương về cung, ông quên rồi à? (quay lại phía viên triều thần già) Còn cụ, cụ không trông rõ ra con gì mà sợ nó húc! Chỉ có hươu mới có lộc, có gạc chứ! (ngoảnh sang phía đình uý) Còn quan đình uý, ông coi về xét xử mà ăn nói hồ đồ vậy ư! Ông muốn là hươu hay là ngựa?

        TRIỆU CAO: -Tâu bệ hạ, quan đô uý trót quá chén nên quên là đang chầu trước bệ rồng. Thị vệ đâu? (Có tiếng dạ ran rồi hai thị vệ xuất hiện. Triệu Cao trỏ đô uý) Hãy dìu quan đô uý vào tĩnh thất nghỉ tạm!

        (Hai thị vệ xông lại túm đô uý lôi đi. Đô uý cố nói với lại)

        ĐÔ UÝ: - Tôi không say đâu! Chỉ không cam nói hươu và làm ngựa thôi. Tôi đành một chết, nhưng mong các người sớm tỉnh lại, đừng sống như ngựa để thiên hạ chê cười.

(Các triều thần nhớn nhác, nhưng không ai dám hé răng. Một lát)

        HỒ HỢI (vẻ không vui): -Trẫm cảm thấy mệt. Trẫm truyền bãi trào.

        (Quan thị dìu vua ra. Các quan lục tục ra về. còn lại Triệu Cao và thái phó)

        TRIỆU CAO: -Ông thấy thế nào? Ta phải triệt dần những đứa trả lời ngập ngừng, gượng gạo vừa rồi.

        THÁI PHÓ (không trả lời thẳng): -Hôm nay, thiên tử không vui hay mệt thật nhỉ?

        TRIỆU CAO: -Thiên tử ngày càng đuối sức (trỏ ngai vàng) Ngồi mãi nơi cao này nên chóng mặt đấy thôi.

        THÁI PHÓ: -Tôi hơi lo. Thiên tử trí lự không bằng tiên đế, nhưng thưà hưởng được của vua cha tính nhẫn tâm. Thôi, ta về chứ?

        TRIỆU CAO: -Tôi còn vào chỗ giam đô uý. Bái biệt.

        (Hai bên chào nhau. Thái phó ra. Triệu Cao nhìn theo. Một chốc)

        Ngươi lo thiên tử hay ngươi ngờ ta? Muốn được thắng vào cùng một cỗ xe với ta thì đừng có thở ra khi ta hít vào!

        (Nhìn cái ngai) Thế là phần đông triều thần nghe ta, chứ không chiều theo Hồ Hợi.. Ta sẽ ngồi lên đây (vừa nói, vừa bước tới ngồi chễm chệ trên ngai). Ta có làm được như Thuỷ hoàng đế không? Đức vua vĩ đại thật nhưng chinh phục Tây vực dang dở, định nuốt cái xứ Âu Lạc bé tẹo lại bị nghẹn. Ta phải làm hơn kia! (mơ màng một lát. Chợt bừng tỉnh, hỏi giật giọng) Ai đó? (hồn ma Mạnh tử vào)

        MẠNH TỬ: -Đây là đâu?

        TRIỆU CAO: -Coi như ngươi đang đứng trược bệ Tần Thuỷ hoàng đế.

        MẠNH TỬ (vội khấu đầu): -Tâu bệ hạ, nho sĩ Mạnh Kha xin ra mắt.

        TRIỆU CAO: -Bọn nho sĩ đã bị chôn sống hơn 460 đứa rồi mà để sót tên này. Bay đâu!

        MẠNH TỬ: -Hãy cho tôi biẹn thuyết một lời đã.

        TRIỆU CAO: -Bọn đi biện thuyết chỉ làm hỏng nhân tâm. Không được!

        MẠNH TỬ: -Họ Dương truyền bá thuyết “vị ngã”, họ Mặc truyền bá thuyết “kiêm ái” thì mới làm hỏng nhân tâm. Vị ngã là không tuân “nhất tự công” thì còn đâu tâm sức dành cho bề trên, cho thủ lĩnh. Kiêm ái thì không biết “một tách thành hai”, coi mọi người cùng một duộc, người sai khiến cũng thế mà kẻ bị sai khiến cũng thế.. Vậy đều là không sùng bái thủ lĩnh. Không sùng bái thủ lĩnh tức là cầm thú(7).

        TRIỆU CAO: -Câu ấy nghe được. Ta miễn cho ngươi phải chết lần thứ hai, mà đầy ngươi ra ngoại vực để bọn man di hãm bớt thói hay lí sự đi.

        MẠNH TỬ: -Tôi nghe: “lấy văn hiến Hoa hạ giáo hoá man di, chứ chưa từng nghe lấy tục man di để kiềm chế Hoa hoạ”. Người quân tử có thể đi giáo hoá họ; nhưng phải tiên binh, hậu lễ. Trước hãy phái hùng binh đi dạy cho họ cái đạo thờ Trung Quốc đã.

        TRIỆU CAO: -Nếu bọn nho sĩ kía đừng khua môi bài bác bề trên, mà biết kết hợp với bọn pháp gia chúng ta, và biết nói những lời như ông vừa nói thì làm sao mà bị chôn sống.

        MẠNH TỬ: -Đó là vì họ đã quên mất cái lẽ tuỳ thời của thánh Khổng.

        TRIỆU CAO: -Cái lão cố bảo vệ cái ngai ọp ẹp của nhà Chu ấy à? Y làm gì hỏng nấy. Chẳng phải y “biết không thể làm được vẫn cứ làm”(8) đấy ư? Y chỉ muốn được độc tôn là thánh thôi. Y học đạo của Lão Đam mà rồi Lão tử phải trốn đi. Còn nhắc làm gì đến con người nhiều tham vọng ấy.

        MẠNH TỬ: -Khổng phu tử có hai điều sở đắc lớn: thuýết “tôn quân” và thuyết “đại nhất thống” coi Trung Quốc là cái rốn thiên hạ. Cái bài vị của ngài thiết tưởng cũng đắc dụng lắm vậy.

        TRIỆU CAO: -Ta chưa biết câu nào của lão nghe được.

        MẠNH TỬ: -Phu tử chẳng tâm đắc câu “Lễ nghĩa chẳng xuống đến hạng dân đen, hình phạt không lên đến các quan lớn” trong kinh Lễ đó sao? Suy cao lên thì “lỗi lầm không vướng các bậc tối cao, đúng đắn không thuộc bọn kẻ dưới”.

        TRIỆU CAO: -Nghe được! Nhưng đó là lão nhai lại, có phải lão nghĩ ra đâu. Điều khả ố nhất là lão chỉ biết mỗi nhà Chu làm cha thiên hạ được thôi.

        MẠNH TỬ: -Không phải thế đâu ạ. Cũng có lúc phu tử nói trường hợp vua mất ngôi trong sách Luận ngữ: “Các giống Di, Địch dẫu thời bình có vua cũng không sánh tày Hoa hạ thời loạn không vua”.

        TRIỆU CAO (gật gù): - Nghe được! Thế mới đúng khẩu khí Hoa hạ. Nhưng bọn Thuần Vu Việt tôn Khổng tử để chống bọn ta. Bọn ta phải bài xích lão để triệt bọn chúng. Nay lại dùng lão sao đặng?

        MẠNH TỬ: -Đạo của Phu tử có thể lỗi thời, nhưng hễ còn tham vọng sai khiến bọn đầu đen, khống chế thiên hạ, khuất phục man di thì tinh thần ấy của ngài không thể chết. Nó chỉ biến tướng mà thôi.

        (Chợt một luồng ám khí bốc mù. Một bóng ma người hủi gớm ghiếc theo vào)

        TRIỆU CAO (ớn lạnh): -Cái gì kia?

        MẠNH TỬ: -Đó là Dự Nhượng. Y nuốt than hồng, bôi sơn vào người cho lở loét như người hủi, cải dạng để báo thù cho chủ là Trí bá.

        TRIỆU CAO: -Trí bá là ai?

        MẠNH TỬ: -Một quyền thế lớn và rất bạc ác.

        TRIỆU CAO: -Ta cần vạn vạn gia nô trung thành như Dự Nhượng, chứ chưa cần một Khổng Khâu.

        (Có tiếng rền như sấm. Ánh sáng nhập nhoạng. Bổng nhiên, Triệu Cao kêu lên một tiếng, bị hất lộn cổ từ trên ngai xuống chân bệ, trong khi Mạnh tử và Dự Nhượng biến mất. Lúc ánh sáng ổn định trở lại, bóng ma Tần Thuỷ hoàng đã chễm chệ trên ngai.)

        TẦN THUỶ HOÀNG (trmặt Triệu Cao vừa lóp ngóp trỗi dậy) :-Tên cuồng vọng kia! Thuỷ hoàng đế về hỏi tội ngươi đây. (Triệu Cao quì mọp dưới chân bệ) Ngươi muốn theo gót ta à? Ngươi định thâu tóm thiên hạ, mở rộng bờ cõi hơn cả ta à? Trong ngươi có dòng máu vua chúa trộn với dòng máu con buôn không? Hai thứ đó hợp lại có thể làm nên cái giảo quyệt của con cáo(9). Ta xem ra ngươi có thừa bản lĩnh cáo cộng với tư chất thỏ đế. Cũng được. Bọn theo đòi ta sau này, đứa nào ít nhiều chẳng có máu thỏ đế? Nhưng ngươi thiếu cái “cuồng bạo của con sư tử”(.9); ngươi chỉ mới có cái tàn ác của loài sói thôi. Ngươi đã học mót được những gì ở ta? Ngươi cần Dự Nhượng mà không cần Khổng Khâu. Ha, ha,... Ngươi học ta đó, phải không? Này! Khi ta còn sống, ta chẳng cho phép ai chỉ trích ta dù chỉ một sợi lông. Nhưng nay ta cũng làm phúc mà tiết lộ âm cơ cho ngươi chút đỉnh. Ta đã sai lầm mà đốt sách. Lẽ ra phải sai chúng sửa lại sách theo ý ta. Ta đã cho bọn nho sinh đấu tố lẫn nhau rồi đem chôn sống. Lẽ ra phải trao gậy và búa cho bọn học trò lau nhau để chúng xua bọn to đầu vào khuôn phép. Ta có thể dùng đạo của Khổng Khâu để giữ ngai, mê hoặc lũ đầu đen và giáo hoá bọn man di. Ngươi biết thủ đoạn song còn kém tinh vi; ngươi tráo trở song chưa đủ lì lợm; ngươi xảo trá song chưa biết cách ngang ngược; ngươi càn rỡ mà kém hoạt đầu. Mẹo dùng hươu để thử người còn khí thô thiển. Phải hai nghìn năm nữa, con cháu chúng ta mới có những người thi thố mẹo của ngươi với tài nghệ vượt xa ngươi. Thế mà chúng vẫn sẽ phải ôm hận, huống chi ngươi! Thật đáng cách cái mạng của ngươi đi! AQ đâu! (Chợt giật mình hốt hoảng trỏ tray) Ai kia như thằng cha Trần Thiệp. Không ngờ một tên cùng đinh như hắn lại có thể gây vạ cho cơ nghiệp của ta! (Thở dài. Biến mất cùng Triệu Cao. Trần Thiệp hiện ra, bước lên vài bậc bệ dưới chân ngai vàng)

        TRẦN THIỆP (nhìn quanh): -Chỗ của ta đâu? Chỗ của ta đâu?

        (Có tiếng cười. Ánh sáng nhập nhoạng. Chu Nguyên Chương hiện ra đang ngồi trên ngai. Trần Thiệp ngửng nhìn, cau mày khó chịu)

        Đứa nào mà hỗn thế?

        CHU NGUYÊN CHƯƠNG (rung đùi, nói như hát tuồng): -“Đào hào sâu, tích trữ lương thực, chưa xưng bá”(10).

        TRẦN THIỆP (hét): -Đứa nào?

        CHU NGUYÊN CHƯƠNG: -Chu Nguyên Chương, vua sáng nghiệp nhà Minh đây!

        TRẦN THIỆP: Kẻ gặp vận kia vừa lảm nhảm câu gì thế?

        CHU NGUYÊN CHƯƠNG: -Hề, hề,... Ta tâm đắc câu phù chú của ta. Nếu ta cứ lao bừa như ông và vội xưng bá thì năm đạo quân cùng nổi dậy chống Nguyên như ta xúm lại bóp chết ta rồi. Ta theo kế của Thạch An xướng lên với thiên hạ rằng “không xưng bá”, rồi “toạ sơn quan hổ đấu”. Khi có thời cơ, chỉ cần một trận, ta đoạt giang sơn vào tay.

        TRẦN THIỆP: -Ngươi chỉ hơn ta mỗi cái việc vẽ được chữ kí tên ngươi thôi. chuyện ngươi can gì đên ta?

        CHU NGUYÊN CHƯƠNG: -Ông là người đi trước, nghe ông than thở ta buồn cười quá. Làm việc lớn mà như ông thì chỗ của ông lại là cái cày, đám ruộng thôi!

        TRẦN THIỆP: -Tên vận đỏ hỗn láo! AQ đâu! Cách cái mạng đứa hành tiến kia cho ta!

        CHU NGUYÊN CHƯƠNG: -AQ đâu! Mau mau tạo phản! Cách cái mạng bọn cổ hủ cho ta!

        (Sân khấu tối kại. Ánh sáng dồn vào chỗ AQ đang nằm ngủ. AQ nói to: “Dạ, con đây!” rồi giật mình nhỏm dậy nhìn lơ láo).

        AQ: -Rõ ràng cụ nào cũng muốn mình đi cách mạng. (Thở dài, đứng dậy đi loanh quanh) Làm cách mạng ư? Phải làm thôi! Thiếu loại người như mình thì cách mạng thế quái nào được! (Lại ngồi xuống) Vậy mà bọn Tú Triệu và Tây giả lại không cho mình đi làm cách mạng. (Uất ức thét lên) Mẹ nó! Không rủ ông đi làm giặc! (Lại nằm xuống ngủ).

 

---------------------------

6. “Bạch mã phi mã” (ngựa trắng không là ngựa) -Một luận thuyết “bất khả tri”.

7. “Nhất tự công” (chỉ một chữ công): Một nguyên tắc sống và hành động mà thời Trung cộng “triều đình” Trung Nam Hải dạy dân Trung Quốc biến họ như một thứ nô lệ mới.

“Một tách thành hai”: Luận điểm triết học của bọn Mao, một cơ sở lí luận để triệt đối thủ và tách bè phái.

Câu của Mạnh Kha nguyên là: “Họ Dương chủ trương vị ngã, thế tức là không vua. Họ Mặc chủ trương kiêm ái, thế tức là không cha. Không vua, không cha, tức là cầm thú”.

8. “Tri kì bất khả vi nhi vi chi”.

9. Ý của Lỗ Tấn.

 10. Khẩu hiệu chiến lược của bọn bá quyền Mao, Đặng, ..., học từ Chu Nguyên Chương.

(còn tiếp)

 

 

 

Mộng A Q

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

GIẤC MỘNG CỦA CHÚ AQ

-Hoạt cảnh “ma thoại” liên hoàn-

 

Xin cảm tạ và cáo lỗi hương hồn Lỗ Tấn

 

NHÂN VẬT: Các nhân vật có xuất xứ từ trong “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn, từ lcịh sử, dã sử Trung quốc, và một số nhân vật hư cấu, trong đó có hậu duệ của một số người nêu trên.

 

Trong vở này, có sử dụng nhiều câu, nhiều từ của Lỗ Tấn,  của một số nhân vật Trung Nam Hải hiện đại và của một số tài liệu, sách, báo Trung Quốc cổ và kim (qua các bản dịch ra tiếng Việt lưu hành trong nước VN, có khi do chính đài phát thanh Bắc kinh ban tiếng Việt trước đây gửi cho tác giả) -có thể có cải biên. Khi cần thiết thì có chú thích.

 

CẢNH TRƯỚC MỘNG

Trước đền Thổ Cốc, bên gốc cây, AQ ngồi bó gối. Có lúc y đứng dậy, đi lại, v.v... tuỳ theo tình ý trong lời độc thoại.

       AQ: -Cái ông Lỗ Tấn thật lắm chuyện, không dưng ghép nặn nên AQ này. Chẳng biết ông ta có ý gì mà dựng lên một AQ không họ, không quê, không cha mẹ, không thân thích. Lai lịch và thân thế  thì rõ là chỉ xứng đáng để sung vào sư đoàn sáu vạn vệ binh hồi đại cách mạng văn hoá vô sản, nhất là đội bảo vệ thiên cung Trung Nam Hải. Duy, chất AQ thì đâu phải chỉ riêng loại “đầu đen”(1) mới có! Phải đâu chỉ hạng AQ tôi mới hay phô trương thứ “luân lí thể diện”, thứ “vinh quang mồm”? Chẳng phải cái ông Lỗ Tấn ấy đã từng thóc mách cái việc thiên triều ta hồi trước hết nhượng bộ đến xin xỏ, hết dựa dẫm lại cầu thân cái bọn bạch quỉ Tây dương, nhưng vẫn tự đắc là sứ thần của bọn họ chỉ được đi qua cổng xép đó sao? Ông tạc nên một AQ cho thiên hạ chiêm ngưỡng, nhưng lại vạch một phần gan ruột AQ cho các ông lớn chạnh lòng. Công ở đấy mà tội cũng ở đấy, ông Lỗ Tấn ạ! May mà ông chết sớm, nếu không thì dù được “người cầm lái vĩ đại” phong cho là “chủ tướng của cách mạng văn hoá Trung Quốc”, khi cuộc “đại cách” được phóng tay phát động, ông cũng khó tránh được phải đội mũ đầu lừa và được dong khắp đường phố Băc kinh đâu! Liệu ông có biết cái ông “vĩ đại” ấy từng tán rằng “Lỗ Tấn là thánh nhân của Trung Quốc hiện đại cũng như Khổng tử là thành nhân của Trung quốc phong kiến”, nhưng khi đã chễm chệ được ở Bắc kinh rồi thì lại phán thẳng thừng rằng nếu ông còn sống thì “hoặc là ngồi nhà chớ viết lách gì hoặc ở trong trại lao động cải tạo”. Vì ông đâu có được bản lĩnh của kẻ mà ông từng nhận xét là “tài năng và sự đê tiện kết hợp một cách lạ lùng trong một con người”(2) để được hưởng đặc ân của “lãnh tụ vĩ đại”! Rồi bây giờ đại quốc của chúng ta vươn lên siêu cường về kinh tế và quân sự, liệu ông có đất để chôn mình không?

        Cái dở nhất của ông là để cho họ đưa tôi đi xử bắn. Ông may mà không phải chứng kiến những màn đại náo của tấn tuồng “cách mạng”, còn tôi thì phải sống chứ! Sống dai nữa kia! Thế mà ông hạ bút như hạ đao vậy. Suy ý tứ của ông thì hẳn có nhiều uẩn khúc:

        -Có phải ông nghĩ rằng để một AQ đầu đen vốn là nạn nhân thì thiên hạ đã bát nháo rồi. Cho hắn ta sống dai sợ lại nảy nòi ra nhiều AQ đầu đỏ nắm quyền sinh sát thì e “thiên hạ đại loạn” mất chăng?

        -Hay là ông muốn tôi sớm chết đi để “hai chục năm sau sẽ lại có một tay hảo hán” làm “giáo viên phản diện” không phải từ trong trang sách mà từ chính cuộc đời?

        -Hay là ông cho rằng chuyện tôi làm cách mạng là “tưởng tượng ra một việc rất quái gở và tự nghĩ rằng quái gở đến thế là cùng!”(3)?

        TIẾNG LỖ TẤN: -Sau này, nếu còn cách mạng thì tôi chắc rằng vẫn còn những tay cách mạng giống AQ. Tôi rất mong mỏi, như lời người ta nói, câu chuyện tôi ghi chép chỉ là “câu chuyện đã qua, hoặc là câu chuyện của một thời nhất định”. Nhưng tôi lại vẫn e rằng những “điều trông thấy” đó không phải là tiền thân mà chính là hậu thân của hiện đại, hoặc giả đó là những sự thực của Trung Quốc hai, ba mươi năm sau này cũng chưa biết chừng.(3)

        AQ: -Ha! Ha! Thế mà ông sớm kết liễu đời tôi. Tôi hận nhất là ông đưa tôi ra một pháp trường của một huyện lị vô danh. Ông đã chẳng từng nói: “Bắc kinh là chốn ‘đô thành nhân đức’. Đến cả việc xử tử ở đây so sánh với các tỉnh khác vẫn còn tử tế hơn nhiều” đó ư? Sao ông chẳng cho tôi thọ hình nơi trung tâm “gió Đông thổi bạt gió Tây” ấy? Thật ra thì ông đã biết là ông lầm. Ông đã run bút khi liên hệ tới việc dùng lưỡi liềm cắt cổ như Bao Chửng đời Tống. Ôi! Giá như ông biết rằng sau khi ông chết ba mươi năm, người ta cắt cổ cốt là cắt thanh quản để nạn nhân khỏi kêu hoặc khỏi vạch mặt họ, và rằng phương pháp cách mạng ấy đã có cơ sở tư tưởng hẳn hoi, và đã được đem truyền bá sang cả nước chư hầu, -xứ Chùa Tháp, mãi phương nam xa xôi! Nhưng tôi thì tôi cần quái gì! Dù có chết rục trong tù như vị á hoàng đế họ Lưu hoặc bị các tiểu tướng nện cuốc vào gáy, tôi cũng ngậm cười, vì dù sao cũng được làm vật hiến tế cho bậc thánh sống “thống soái vĩ đai”. Ồ! Nếu tôi lại ghi được nhật kí như anh chàng họ Lôi nữa thì chết càng vinh dự.

        Không may cho ông hay là may cho tôi, cuộc đại cách mạng “không phải là tốt mà là rất tốt”(4) đã đem lại sức sống cho tôi. Hơn thế nữa, ông xem đây, có phải tôi phổng phao hơn, chững chạc hơn, cách mạng hơn chú AQ của ông bội phần không?

        TIẾNG LỖ TẤN: -Thực ra, AQ có đem đũa mà gióc ngược cái đuôi sam của y lên nữa thì cũng không thể cho là đã làm cách mạng được.(3)

        AQ: -Hô! Hô! Người ta bám một chủ nghĩa để tương ra một tư tưởng mà có thể cho là “cách mạng đích vĩ đại” được thì gióc ngược đuôi sam kém vĩ đại ở chỗ nào?

        TIẾNG LÕ TẤN: -Chà! Cái tay AQ vốn chỉ là đáng cười và đáng thương, không ngờ lại đáng sợ đến thế!

        AQ: -Hi, hi. Ông nghĩ sao? Cho đến nay tôi vẫn mù chữ đấy. Nhưng há ông không biết tôi được nghe đọc Mao tuyển và hô khẩu hiệu nhiều hơn được ngửi hơi cơm sao? Hơn nữa, ông có biết vị thống soái và là cha đẻ Hồng vệ binh khoe với các “tiểu tướng” rằng ông ta học mưu mẹo trong các dã sử Trung Hoa? Tôi vốn là khách quen của các buổi hát tuồng, nghe lời dạy vĩ đại đó, tôi nghiện thêm cái món kể các tích cổ. Ôi cha! cha! Bao nhiêu là sự tích anh hùng! Nào là Tào Tháo giết người, cứu lợn ; nào là Triệu Cao cho ngựa nuốt hươu ; nào là Đường Thái Tông(5) hí Võ hậu. Thật là những gương sáng ngời chính nghĩa!

(AQ đang đắc chí thì lão khán đi đến. Đột nhiên, lão dừng lại, mắt trợn trừng, miệng há hốc)

        LÃO KHÁN (lắp bắp): -Ma! ma! (nhớn nhác nhìn trước nhìn sau, trong khi AQ do phản xạ theo cái sợ cố hữu, sững người lơ láo nhìn lão khán. Lão này chắp tay khấn) Mô Phật! AQ sống khôn, chết thiêng, nếu có bất đắc kì tử thì đi đòi những kẻ nào đã hại chú ấy, đừng về ám những người đã dung nạp chú.

(AQ nghe thế như sực tỉnh chợt cười lên. Lão khán hơi giật mình, cố lấy can đảm trỏ vào AQ lên giọng quát, nhưng vẫn hơi run)

        Này! Bảo cho mà biết! Hàng mấy chục triệu người mất mạng trong “chỉnh phong”, trong “cải cách điền địa”, trong “đại nhảy vọt”, trong “đại cách mạng văn hoá vô sản” cũng hiện về kêu oan cả đấy hử? Không dưng, ai hơi đâu mà lo cho những đứa đã chết rồi! Dễ chú cũng muốn được dựng nhà lưu niệm ở quảng trường Thiên An môn như ai kia chắc! Chú chết mà sướng đấy. Hãy xem bao nhiêu đứa trong lũ tiểu tướng hung hăng một thời nay lang bang du thủ, du thực, hoặc chết đói nhăn răng ra kia!

        AQ (ngẩn ra một lúc rồi kêu lên): -Ủa! Ông khán, ông tưởng tôi chết thật sao? Tôi sống lại rồi. Vừa từ trên huyện về đây.

        LÃO KHÁN (định thần lại): -Sao? Chú không chết hả? Có thật không? Mô Phật! Thật vô phúc cho chú. Thôi! Đứng dậy vào quét đền Thổ Cốc, rồi đến nhà cụ cố Triệu, cụ cố Tiền mà cuốc đất, giã gạo kiếm ít cơm nguội.

        AQ (nói chủng chẳng): -Đây không làm thuê nưã. Cách cái mạng rồi.

        LÃO KHÁN: -Cái gì? Cách mạng rồi à? Ha, ha! Cách cái mạng để cho thằng AQ không còn là thằng AQ nữa! Trời đất ơi! Sao mà chú ngây thơ thế! (Ra giọng tỉ tê, nhưng riễu cợt) Này, AQ này! Chú cứ đi giã gạo cho người ta nhưng cứ nghĩ đây là gạo con cung phụng bố. “Con” là người có gạo, còn “bố” là người giã gạo tức là chú đấy mà. Ấy thế là bụng no cành ra ngay và trong người thảnh thơi ngay đó mà. Chú thấy không? Cụ cố Triệu và ông Tây giả đến rủ chú đi cách mạng đó kìa!

        (Cụ cố Triệu mặc áo thụng và lão Tây giả cầm gậy đi vào).

        CỐ TRIỆU (giọng lè nhè): -Thằng AQ đó a? Chớ có làm mình, làm mẩy nữa. Xưa sao, nay vẫn vậy, chẳng có gì khác đâu. Nhưng phải cho mày cái áo khác thôi. Cái áo cũ tã quá rồi. Chẳng phải vì lo mày chết rét đâu. Thế nào cũng đến nhé!

        TÂY GIẢ (giơ gậy lên): -Không phải nói lôi thôi với nó. Cứ cái này là nó nghe ra hết.

(Cố Triệu và Tay giả bỏ đi. AQ rúm người lại từ khi hai kẻ kia vào, và giơ tay ôm đầu khi Tây giả giơ gậy. Khi bọn kia đi rồi, AQ ngồi bệt xuống cạnh gốc cây)

        AQ (lẩm bẩm): -“Nhà tao xưa kia có bề, có thế bằng mấy chúng mày kia! Thứ chúng mày thấm vào đâu!”. Ông cha tao ấy à... Hừ! Thứ chúng mày thật không xứng... ” .

        LÃO KHÁN: -Chú vừa lải nhải gì thế? Liệu hồn đấy! (Đổi giọng cười cợt) À, mà chú vẫn tự xưng là có gốc gác quyền thế lắm kia mà. Mang oai tổ tông, chẳng gì cũng giữ mẽ bộ lông, bộ cánh, Bộ dạng chú vênh vang được đấy! Hậu vận chú may ra khá cũng nên. (Bỏ đi).

        AQ (thở dài): -Thời buổi nhố nhăng hết chỗ nói. (Hăng lên) Cách cái mạng hết chúng nó đi! (Đứng dậy giang tay làm diệu bộ tuồng) “Ngã thủ chấp cương tiên i... i... tương nỉ đả”. Mẹ kiếp! Ta cũng dòng giống lắm chứ! (Ngồi xuống mơ màng) Ông cha ta xưa... Vị nào hợp với mình nhỉ?

        (Nằm xuống ngủ, Ánh sáng tắt. Sân khấu tối thui)

 

 

 

 

-----------------

(1)   Chỉ dân cùng đinh, theo cách gọi đời Tn Thuỷ hoàng.

(2)   Lỗ Tấn nhận xét Quách M.N.

(3)   “Vì sao tôi viết AQ chính truyện”

(4)   Lời Mao đánh giá “đại cách mạng văn hoá vô sản”

(5)   Một vua Trung Quốc ham bành trướng mà Trung Nam Hải, trước hết là Mao, tôn sùng. 

(còn tiếp)

 

Nói kĩ thêm về từ "Tiền chiến"

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

“TIỀN CHIẾN”

LÀ NHƯ THẾ NÀO?

-bàn góp-

 

        Lâu nay người ta viết (nói), chẳng hạn, lớp văn nghệ sĩ tiền chiến; tái bản tác phẩm tiền chiến (như văn thơ của Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, nhạc của nhóm Đồng Quê, tranh của Tô Ngọc Vân, v.v...). Tiền chiến = trước chiến tranh , hẳn là nói: trước cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cụ thể là trước Toàn quốc kháng chiến chống Pháp (19/12/1946).

       Dường như có gì đó chưa thoả đáng.

       Nói Nguyễn Tuân, chẳng hạn, là nhà văn "tiền chiến" chắc là nghe xuôi. Còn Trần Đăng mà tác phẩm được biết đến trước tiên, viết về những chiến sĩ giải phóng quân "lần đầu đến thủ đô", ra mắt sau 19 / 8 / 1945 và trước 19 / 12 / 1946, nếu coi là nhà văn "tiền chiến" thì chắc là khó nghe.

       Về tác phẩm, chẳng hạn Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, xuất bản giữa năm 1946, phần cuối của tác phẩm có dấu ấn của tinh thần những ngày sau Cách mạng tháng Tám, có là truyện "tiền chiến" không? Rồi Ngọn quốc kì, thơ của Xuân Diệu, Chiến sĩ Việt Nam, ca khúc của Văn Cao, kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng và nhiều tranh, tượng, ảnh nghệ thuật, cùng các tác phẩm văn thơ, ca khúc khác được sáng tác trong thời gian từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến có gọi là những tác phẩm tiền chiến không?

       Có vẻ như chỉ là cách gọi “cho tiện”, chẳng nên so đo làm gì. Thật ra, cái chính ở chỗ khác.

       Nói cho công bằng, không thiên vị, không định kiến, không vì “đấu tranh giai cấp”(?), “đấu tranh ý thức hệ”(?) thì cái mốc “1945” đánh dấu những chuyển biến, những thay đổi (sâu xa hay bề ngoài, lâu dài hay tạm thời, toàn bộ hay một phần, ... ) về tinh thần, về ý thức, về nếp sống, về các mối quan hệ, ... theo cái hướng “đổi đời”, thoát ra và vươn lên từ “80 năm nô lệ". Cái cần lưu tâm, cần ghi nhận là ở chỗ đó. Những chuyển biến, thay đổi ấy về sau phát triển hoặc biến dạng, tốt hay xấu, thì cũng không thể vì thế mà tùy tiện di dời “cái mốc lịch sử” kiểu như di dời cột mốc biên giới mà ông “bạn” láng giềng “vĩ đại” của nước ta vẫn làm!

       Được biết cái từ "tiền chiến" vốn khá phổ biến ở miền Nam trước 30 / 4 / 1975 thường dùng để chỉ những văn nghệ sĩ và các tác phẩm văn nghệ từng có mặt trước cái mốc trọng đại trong lịch sử đất nước năm 1945. Có lẽ thời đó ở trong đó người ta không thể (có người thì không muốn ) dùng từ "trước Cách mạng " hoặc "trước ngày Độc Lập" chăng?

       Như vậy thì có nên dùng từ "tiền chiến" hay là nên thay bằng từ khác, chẳng hạn "trước Cách mạng" ? Cũng có thể, để cho “trung tính”, thì nói “trước 1945”, “sau 1945” (kể ra, cuộc Nhật đảo chính Pháp ngày 9 – 3 – 1945 cũng góp phần nhất định vào những biến chuyển nêu ở trên).

       Nên chăng có một qui định chính thức từ một cơ quan có chức trách và có thẩm quyền về nghiệp vụ và chuyên môn? Với trường hợp này và nhiều trường hợp khác nữa.

Hải Phòng, 20/9/2007 - 10/2011

 

Ai phải ơn ai?

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

AI  NỢ  AI ?

 

 

        Nhà cầm quy  ền Bắc kinh thường tận dụng các phương tiện tuyên truyền cố tình nhồi sọ làm cho dân TQ và nhân dân thế giới nghĩ rằng trong quá khứ họ đã đơn phương giúp Việt Nam chống xâm lược mà rồi VN “bội bạc”(!) (ngay cả một số giáo sư TQ vẫn hay nói với sinh viên VN du học bên đó rằng VN “vô ơn”).

        Sự thật ra sao? ơn ai? ai ơn?

        Có phải “ông-anh-đồng-chí” hào phóng và vô tư ban viện trợ một cách “quân tử”, -nói kiểu phương đông truyền thống, hoặc với tinh thần “quốc tế vô sản”, -nói theo ngôn từ cách mạng? Chuyện đâu có đơn giản!

        Đã có không ít bài viết đề cập đến chuyện này. Tôi xin mạn phép bổ sung một số ý nhỏ.

        Năm 1949, Trung cộng giành được toàn nước Trung Hoa trên đất liền; sau đó chỉ được các nước XHCN công nhận. Họ rất muốn có được tiếng nói và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Dịp may lớn đầu tiên là hội nghị Genève năm 1954 về chiến tranh Đông Dương -trong đó cuộc kháng chiến của VN là chủ đạo, Bắc kinh được tham dự. (Sự nóng lòng tận dụng dịp may đó bộc lộ không mấy tế nhị và vinh dự trong phiên khai mạc: Chu Ân Lai, trưởng đoàn Trung cộng, tươi tỉnh tiến đến để bắt tay trường đoàn Mĩ -nhưng ông này quay lưng lại). Trong suốt quá trình hội nghị, họ qua mặt VN thương lượng trực tiếp với phái đoàn Pháp, áp đặt ý đồ chia cắt VN. Họ chỉ cần một vùng cách li an toàn cho đất nước họ. Nhờ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, và nhân dân Đông Dương nói chung, có cơ hội, họ cố giương ra một vai trò nào đó trên bàn cờ quốc tế và đã đạt được phần nào.

        Việc ra sức hoạt động để vượt ra thế giới không từ bất cứ thủ đoạn nào, tất nhiên có việc lợi dụng VN. Chuyện nhỏ sau đây chứng tỏ họ vừa thâm hiểm, vừa trơ tráo. Năm 1956, trong đêm tối một tàu hàng của Pháp trên đường vào một cảng biển VN để nhận than (do VN trả, nằm trong chi phí mua lại mỏ than ở Hồng Quảng -Quảng Ninh sau này) đâm phải một tàu đánh cá của người TQ chường ra trên luồng tàu đi. Người Pháp vớt các ngư dân lên chăm sóc, đối đãi tử tế, lập biên bản trong đó ngư dân TQ thừa nhận họ đã sai, vi phạm luật đường biển. Thuyền trưởng tàu Pháp mời nhà chức trách VN đến trao trả người và đưa cả biên bản. Phía VN cảm ơn, rồi trao lại cho phía TQ. Bắc kinh nhận người, ỉm luôn biên bản, và lớn tiếng kết tội tàu Pháp đã ngang nhiên hiếp đáp ngư dân TQ(!), đòi công khai xin lỗi và bồi thường. Họ tìm cách để buộc chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với họ. Vì mưu đồ thâm hiểm của mình, họ đẩy VN vào thế rất khó xử. Người thuyền trưởng Pháp cay đắng nói với phía VN: Tôi biết các ông đang phải làm vừa lòng TQ, đằng sau việc này là những toan tính chính trị của họ.

        Nhiều người đã nêu rõ lí do vì sao năm 1968 Bắc kinh ra sức ngăn cản VN đi hoà đàm với Mĩ ở Paris. Họ muốn VN “chống đế quốc đến người VN cuối cùng” (cách nói của các nhà báo phương Tây) một khi họ đang cần vậy cho những tính toán lợi ích của họ. Đến khi Mĩ muốn rút khỏi cuộc chiến trong danh dự, Bắc kinh bèn chìa tay ra. Bắt đầu bằng “ngoại giao bóng bàn” và cuộc đi đêm của Kissinger đến Bắc kinh sau “màn kịch đau bụng” của ông ta tại Pakistan. Tiếp đó là màn tổng thống Mĩ Nixon thăm TQ năm 1971, cùng với các cuộc mật đàm, và hệ quả là kết ước Thượng Hải. “Chiến lợi phẩm” của Bắc kinh trong cuộc buôn bán chính trị này thì chẳng ít, nhưng rõ ràng nhất là việc Mĩ làm ngơ cho TQ xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của VN năm 1974, và không lâu sau để ngỏ cửa cho họ giành chiếc ghế thường trực Hội đồng bảo an LHQ của Trung hoa dân quốc (Đài Loan).

         Có được vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế và được ngồi vào ghế HĐBA LHQ, chính (cố) thủ tướng TQ Chu Ân Lai từng nói với “các đồng chí VN”, không chỉ một lần, rằng nhờ có phần đóng góp quan trọng của cuộc đâu tranh của nhân VN, và họ, TQ, rất biết ơn về điều đó.

        Nói về “nợ”, TQ từng “giúp” VN lương thực, trang thiết bị quân đội, vũ khí (chủ yếu là của Liên-xô hoặc do LX giúp Mao đánh Tưởng), ... ; trong khi đó, với VN chính TQ nợ xương máu, nợ “chia cắt đất nước” (chẳng phải Chu Ân Lai đã thừa nhận với Lê Duẩn “chúng tôi đã sai lầm” về vấn đề này sao!), nợ về sự trì trệ, ...

        Nếu kể cho rạch ròi thì nhiều thứ TQ “giúp” đã gây hại, trước mắt hoặc về lâu về dài. Chẳng hạn, đưa quân sang giúp làm đường thì tàn phá môi trường, cảnh quan (trong đó có việc đặt mìn tiêu huỷ “hòn đá Liễu Thăng”), [Xin dẫn thêm một vài ví dụ trong trăm ngàn ví dụ: ở Côn Sơn, nơi ẩn cư của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi, họ đã đào xuyên ngang dọc quả núi thành đường hầm, hiện cửa vào bị bít, không ai biết họ làm gì trong đó. Nhiều di tích như di tích An Sinh, nơi gần đây mới xây đền thờ các vị vua Trần, hết thảy tượng đá thời Trần đều bị phạt cụt đầu hoặc bắn vào bụng. Ở Ngọa Vân am, không những tháp Phật Hoàng đựng xá lị hoàng đế Trần Nhân Tông và tháp Đoan Nghiêm cổ kính cao lừng lững bị đào rỗng ruột, toàn bộ bài vị trong tháp bị đập cho tan nát, tấm bia Trịnh Căn cho lập để kỉ niệm một lần ông đưa con trai và con gái trèo núi lên chiêm bái vị anh hùng cũng bị đập thành ba bảy mảnh, mà 13 ngọn tháp đứng theo một hàng thẳng tắp chạy thoai thoải xuống phía Tây Nam cách nhau chừng 50 mét một tháp đều bị phạt ngang, phía dưới có một đường hầm lộ thiên đào thông tháp nọ với tháp kia. Họ định phá long mạch của nhà Trần lừng lẫy chiến công chống giặc Bắc, cũng tức là phá long mạch của Việt Nam chăng? – Bổ sung của GS Nguyễn Huệ Chi trên bauxiteVN], khai thác trộm của cải, thăm dò ngầm tài nguyên, địa thế,... Chẳng hạn, giúp cố vấn CCRĐ thì đẩy đến những vụ giết chóc man rợ. (Không kể những vụ “nổi tiếng” như vụ Nguyễn thị Năm, có nhiều vụ “âm thầm”; ví như tại một xã, trong một đêm có sáu người đột tử, cán bộ đội CCRĐ nhận định là tự tử, nhưng bị cố vấn TQ phê phán là kém cảnh giác và khẳng định là do địch bịt đầu mối; sau đó “quả nhiên” đội (phải) tìm ra “địch” đưa ra xử tử!). Chẳng hạn, giúp “xây dựng CNXH trên miền Bắc” (chẳng phải cho không) thì như khu gang thép Thái Nguyên mà một chuyên gia Đông Âu cùng phe XHCN từng nhận xét là kĩ thuật lạc hậu chính TQ đang muốn thay thế ở nứoc họ, qui mô rềnh ràng tốn đất, năng suất thấp,... V.v... Những món nợ kiểu này, những người VN cả tin phải chịu, nhưng Bắc kinh phủi tay được sao?!

         Đã đến lúc, dẫu khí muộn, cần phải cho nhân dân VN, nhân dân TQ, nhân dân toàn thế giới thấy rõ sự thật trắng đen, không để cho Bắc kinh quen lối “cả vú lấp miệng em” đầu độc dư luận trong nước họ và quốc tế. Mà làm việc này trách nhiệm chính là của các phương tiện thông tin chính qui của ta, các báo “mạng” chỉ có tác dụng hạn chế.

 

27-9-2011


 

Phim TH của ta, đôi điều bàn phiếm

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   


PHIM TH CỦA TA, VÀI Ý MỌN

  

 

        Đây là nói phim đã và đang chiếu  trên màn hình, mà cũng chỉ bàn phiếm đôi điều.

        Phim ta trên màn hình bây giờ đã có người xem; xem với ít nhiều hứng khởi chứ không phải với cái kiểu “không có cơm thì đành tạm ăn sắn vậy”. Khá nổi là loại đề tài “nhạy cảm”, loại “dễ phạm húy”: quan tham. Hãy lướt qua mấy phim từ “Chạy án”, “Biệt thự màu tro lạnh” đến “Chủ tịch tỉnh”. Phim Chạy án chỉ mới dám động đến một “thứ trưởng”, mà tội của ông này chỉ là gà mờ để cho vợ con lộng hành. Sang phim Biệt thự màu tro lạnh, phó chủ tịch một tỉnh đã là tay ăn đút, hám gái thứ thiệt. Cả hai phim cũng chỉ mới dám động đến cấp “phó”, và cũng chỉ là “con sâu” đơn độc. Đên phim Chủ tịch tỉnh đang chiếu trên VTV1 thì đã nâng đối tượng lên cấp “nguyên thủ” dù chỉ mới là cấp tỉnh. Ông thủ này sinh thời được tiếng là người liêm chính, trung thực trong mắt vợ con, thuộc hạ và người dân. Nếu ông ta không bị tai nạn bất ngờ thì chẳng ai biết được kho của ông ta đang cất giấu (kể cả bà vợ thích bám nông thôn của ông ta) và vợ con “chui” của ông ta. Ông “sâu” bự này không là cá biệt. Còn có phó chủ tịch thường trực, chánh văn phòng và vợ con họ, còn cả các đại gia trong giới kinh doanh nữa, tất nhiên. Quan nhân và doanh nhân, chúng cấu kết với nhau kiếm chác trên nỗi bất hạnh của người dân. Trước đây dăm năm ở ta khó mà làm được một bộ phim như thế.

        Tuy nhiên, cả phim này nữa thì vẫn chạy theo sau hiện thực.

        Ông chủ tịch tỉnh quá cố có tham nhũng nhưng không lộ rõ ăn bẩn, ranh ma hay tàn bạo. Ông ta cưỡng hiếp cô nhân viên đến cầu cứu mình gỡ nạn cho người yêu của cô, song rồi ông ta lại yêu cô thật, lo cho mẹ con cô thật, và cô cũng đáp lại bằng một mối chung tình. Mà ông ta cũng chỉ có một lần “ăn phở” vậy thôi. Các quan chức nhà ta có máu dê, -chắc là chẳng ít, hẳn sẽ cười mũi và hẳn không kết nạp ông ta vào hội của họ, kể cả khi họ đã sang thế giới bên kia. (Tôi có quen một ông phó chủ tịch một tỉnh lớn; sau khi về hưu ông ta “mở lòng” tiết lộ những “tiết mục” phong phú kia!). Bà vợ ông ta là một mệnh phụ hiếm có; yêu thương chồng con, tận tụy, đã đành, còn cam sống thanh bạch và rất tôn phục, tự hào vê đức liêm chính của chồng mà bà vẫn đinh ninh. Con trai ông ta, cả cô con dâu tương lai nữa, là thanh niên chính trực, nhân hậu. Họ vỡ mộng về ông bố thần tượng nhưng không hoang mang, không hụt hẫng lòng tin vào tình yêu, tình người và, thật đáng khen, không tiếc, không cay cú món tài sản kếch sù mà người cha vơ vét được bị tước đi. Mẫu vợ con như vậy của một quan tham dường như chưa xuất hiện trên đời. Trong đời thực, chỉ thường thấy các phu nhân nếu không xúi giục, thậm chí bày mưu tính kế, cho quan ông thì cũng thay mặt tiếp các “khách cửa sau”; và hiếm có quan bà nào không biệt lợi dụng và tận dụng những quyền-lợi do chiếc ghế của chồng mang lại để tỏ mặt “thượng lưu” biết làm ăn và biết sống! Còn các “cậu ấm, cô chiêu” hiện đại thường rất biết “xài” các lợi thế của mình trong trường học cũng như trong trường đời.

        Ông chủ tịch “bất hạnh” ra đi, các đồng sự của ông khéo xử lí những “di sản” của ông. Cái phiền quanh chiếc ghế ông để lại cũng tạm êm xuôi. Cứ cung cách xưa nay thì một ông phó chủ tịch sẽ lên thay, và rồi một ông đầu ngành của tỉnh hay ông chánh văn phòng ủy ban sẽ trám vào cái ghế “phó” trống đó. Nề nếp là vậy nhưng thường là phải thăm dò, vận động, cân nhắc, xin ý kiến chỉ đạo của trên,... rồi họp lên, họp xuống (họp hẹp, gặp riêng, trù bị,...) chán đã mới quyết định. Trong phim, sự việc được giải quyết khá là gọn nhẹ trong một cuộc họp ban thường vụ tỉnh ủy. Một ông phó chủ tịch vôn chỉ là tỉnh ủy viên thường được bổ sung vào ban thường vụ tỉnh ủy và sau đó dược bầu làm chủ tịch tỉnh. Cái ghế “phó” do ông này để lại được giao cho một ông chủ tịch huyện. Kết qủả này khiến ông phó chủ tịch thường trực đang chắc mẩm cái ghế chủ tịch tỉnh nằm trong tầm tay, cũng như được một số cấp dưới tung hô trước, ngã ngửa. Ông chánh văn phòng và một số ông giám đốc sở đang ngấp nghé chiếc ghế phó trống cũng vậy. Các cuộc “xếp ghế” thật là êm ả, dễ dàng  “thành công tốt đẹp”. Không phe phái, không đấu đá, không chạy chọt, không mua bán.

        Các sự việc, các diễn biến trong phim cũng có vẻ dễ “êm chèo, mát mái”. Việc kêu cầu của dân đen xem ra chẳng mấy gian truân. Các âm mưu xem ra cũng “thoải mái”. Các đụng độ rồi ra chắc cũng chẳng rối ren lắm. Về con người thì tốt, xấu rành mạch. Ông phó chủ tịch thường trực, ông chánh văn phòng và các bà vợ đều là những “bậc cao thủ” đen, Ông chủ tịch mới lên là ngưòi tốt, cả nhà ông cũng tốt. Dẫu ông có vô tình mà có một đứa con rơi thì người xem cũng không vì thế mà đánh giá thấp ông (nhưng rất có thể là các tác giả phim cài chi tiết này để gây “sóng gió” cho ông về sau). Ông bí thư tỉnh ủy cũng tốt, tuy mờ nhạt. Các tác giả phim để cho vợ con ông ta không được tốt lắm, hẳn là vì “cũng phải thế này thế nọ chứ”. Một ông giám đốc một sở có vai vế, ứng cử viên của chức phó chủ tịch khuyết, bị bẫy cho say rượu đem đặt nằm cạnh gái, vậy thôi; ông mất cơ hội, nhưng ông trong sạch, đáng được tiếc hộ ông.

        Bộ phim còn đang tiếp tục. Chắc là sẽ có những pha đấu tranh giữa chính-tà. Và chắc sẽ có một kết cục mà các cấp có thẩm quyền chấp nhận được và người xem có thể ít nhiều hài lòng.

        Với “trình độ” phim ta hiện nay, rõ ràng là có “tiến bộ” về “phản ánh hiện thực”. Tuy nhiên, có vẻ như chưa hẳn đã thoát ra khỏi “văn nghệ phải đạo” (chữ của Hoàng Ngọc Hiến), “văn nghệ minh họa” (chữ của Nguyễn Minh Châu). Có nghĩa “rằng thì là” trước đây chỉ được phản ánh ở mức “căn bản là tốt chỉ vài con sâu làm rầu nồi canh” trong khi thực tế thì đã “quá mù ra mưa” rôi, nay đã có thể đề cập đến “nhiều con sâu”, nhưng cũng chưa ở mức “bầy sâu” như ông Trương Tấn Sang đã có lần nói trước một cuộc họp đại diện cử tri.

        Còn chạy theo xa xa sau hiện thực thì khó mà nói đến chuyện phản ánh hiên thực, nói chi vai trò dự báo!

        Tất nhiên, chẳng ai muốn xem một phim chỉ rặt những “con sâu” với rặt những âm mưu, thủ đoạn. Song, một phim chỉ ở tầm minh họa cho chống tham nhũng thì cũng khó “giữ” người xem được lâu.

        Nói đến mong muốn cũng như đòi hỏi ở phim nói riêng, tác phẩm văn nghệ nói chung, mà chỉ nghĩ đến trình độ tay nghề, tầm cao nhân văn,v.v... thôi thì chẳng đủ, còn phải thực tiễn cuộc sống nữa.

 

27 – 8 - 2011

Vẫn chuyện lề thói chậm

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

LỀ THÓI CHẬM    

 

 

        Cách chưa lâu, bản đồ trên mạng Google ghi nhầm quần đảo Hoàng Sa là thuộc Trung Quốc; ta phản đối mới vỡ lẽ (và sực tỉnh) ra rằng ta chưa lúc nào công bố ra thế giới bản đồ nước ta toàn vẹn cả! Trong khi TQ rêu rao và quảng bá từ lâu Hoàng Sa, Trường Sa là của họ; còn trong nước họ thì họ “n hồi sọ” cho dân chúng đinh ninh đó là sự thật, kể cả đưa vào sách giáo khoa cho trẻ con học. (Thế mới có chuyện sách học tiếng Trung của ta dựa vào tài liệu của “bạn” đã in cả bản đồ TQ có hình “lưỡi bò”, -một minh chứng nhỏ về những hậu quả nhãn tiền của sự bưng bít cần phải được nói tới dài dài!). Nữa, cho đến nay chưa thấy công bố tài liệu quốc gia chính thức nào giới thiệu và giải trình những chứng cớ lịch sử và pháp lí về chủ quyền của nước ta ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đáp lại những luận điểm áp đặt của đối phương.

        Ở  nước mình không chỉ vài việc quá chậm! Gác lại những chuyện vào loại “quốc gia đại sự” chưa tiện lạm bàn. Hãy nói mấy chuyện “nhỏ nhỏ”.

        Gần đây, mới xôn xao chuyện người Tàu vào nước ta thu mua (không phép, không thuế) tận nơi, tranh mua với người Việt, tỉ như vải thiều ; thậm chí cả cá biển ngư dân ta đánh bắt được (Trớ trêu thay! Khi đánh bắt trên biển thì hải tặc “lạ” ngăn cấm, cướp bóc, giam giữ, bắt nộp phạt,... ; bắt được cá về thì dân buôn “lạ” lũng đoạn!). Đâu phải chuyện mới xẩy ra và chỉ qua loa vài nơi, vài lần. Chưa thấy có chủ trương, biện pháp gì giữ phép nước, quốc thể, phòng hậu họa cho chuyện làm ăn của dân, và nói rộng hơn, cho nền kinh tế và cho sự an nguy của đất nước. Rồi chuyện người TQ theo chủ thầu vào làm tranh các công việc lẽ ra phải dành cho lao động trong nước vốn đang thiếu việc làm, nhất là các cư dân mất đất cho các công trình. Những lao động ngoại nhập ấy có nhiều trường hợp không phép, không tôn trọng người bản địa, không tôn trọng phong tục tập quán địa phương, coi thường luật lệ,... (Chưa nói có phát giác rằng người ta cho cả phạm nhân người nước họ trà trộn vào). Ấy vậy mà ít thấy các nhà chức trách động đến, mà có động đến thì dây dưa, lúng túng, bị động, dường như bất lực hoặc thiếu quyết tâm giải quyết theo luật nước, lòng dân, như ở Cà Mau chẳng hạn.

        Thôi, tạm gác chuyện “đối ngoại”, hãy nói sang chuyện “đối nội” một chút.

        Một hồi, rộ lên chuỵện "mũ bảo hiểm thời trang". Người ta lại thấy các nhà chức trách chậm biết và chậm "ra tay"! Còn nhớ năm trước thời hạn bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy đã đến rồi mà tiêu chí mũ đạt chuẩn vẫn chưa có! (Chưa nói một chủ trương lớn như thế mà không chuẩn bị thị trường, không tạo cơ hội cho các nhà sản xuất trong nước lại tạo dịp cho hàng nước ngoài, trước hết là từ bên Tàu, ồ ạt tuôn vào, trong đó không ít mũ kém chất lượng, và tạo dịp cho con buôn bất chính! –Có phải cũng là chuyện của “nhóm lợi ích”?).

        Đã nhiều năm nay, ai cũng biết thân phận của nhiều phụ nữ Việt tự bán hoặc bị bán đi làm vợ người Hàn, người Tàu, người Đài Loan. Mãi rồi mới có mấy "tiếng nói chính thức" cất lên. Đã nhiều năm nay, nhiều cá nhân hoặc tổ chức (bịp) lừa người đi lao động nước ngoài. Mãi mới thấy nói đến biện pháp can thiệp.

         Đã nhiều năm nay, việc an toàn thực phẩm từ rau quả đến các thức chế biến sẵn đe doạ sức khoẻ người dân và có ảnh hưởng đến nòi giống về lâu về dài, nhưng mới chỉ thấy báo động "nói" mà chưa thấy có biện pháp "làm" thực sự.  Rồi ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, ngập lụt đường phố, tai nạn xe cộ, tràn lan, triền miên, và chưa thấy "lối ra".

        Đất nông nghiệp "bờ xôi, ruộng mật" của một số vùng  mất dần cho các khu công nghiệp, khu du lịch, cho sân gôn và cái núp sau sân gôn, một cách "phóng tay"; trong khi người nông dân ôm mớ tiền đền bù (chưa hẳn đã thoả đáng ở không ít nơi) mà chưa biết sẽ kiếm sống ra sao . Mãi rồi mới có tiếng nói cảnh báo của vài đại biểu ở kì họp quốc hội. Và rồi cũng... chưa mấy sáng hơn.

        Chuyện thuốc men: giá cả, thuốc nội thuốc ngoại,... nhức nhối mấy chục năm nay mà đến bây giờ vẫn còn loay hoay, chật vật tìm lối thoát.  V.v...

        Có một thứ như là nỗi bức xúc thường lởn vởn là việc lắng nghe, tiếp nhận hoặc giải quyết những phản ánh, kiến nghị, kêu cầu, khiếu kiện,... của người dân luôn luôn chậm, nếu không là bất cập hoặc làm ngơ.

        Ngay như việc đền ơn đáp nghĩa, việc thưởng công nhiều khi cũng quá chậm.

        Nói chi việc thay đổi chủ trương, cả sau khi đã nhận ra những bất cập ; mà nếu có các chủ trương mới đã được quyết định thì cũng rất ít khi được thực hiện "nóng sốt" nếu không ...

        Phải chăng vì khả năng, trình độ quản lí? vì thói vô trách nhiệm? hay vì quyền lợi của "nhóm lợi ích cục bộ" (chưa nói bọn mọt dân hại nước!)?

        Lãnh đạo là thấy trước và nhìn xa. Biết giải quyết kịp thời những cái mới nẩy sinh, có khi chỉ mới manh nha; lường trước được những hệ quả; đề ra được những phương án dài hạn;... Mà phải khẩn trương! Rề rà lối làm ăn "truyền thống" thì khó mà theo được người ta, nói chi kịp và vượt. Người dân thường nào cũng biết vậy, kể cả con trẻ. Đã là lãnh đạo thì phải lãnh trách nhiệm về sự thành bại, kể cả trách nhiệm về lề thói chậm!

 

14-8-2011

 

 

Tự đánh mất mình (bổ sung những chỗ in sót)

Chung Trackbacks (0) góp ý (1)   

KHÔNG CHỈ LÀ TỰ ĐÁNH MẤT MÌNH !


         Cách đây ít lâu, được biết trên những tấm bia ở biên giới phía bắc nước ta lưu niệm cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 do nhà cầm quyền Bắc kinh gây ra, những gì dính dáng đến quân xâm lăng đều bị đục bỏ.

        Nay, bài của ông Phạm Xuân Nguyên trên Bauxite ViệtNam, ngày 24-7-2011, cho biết mấy câu thơ diễn ca lịch sử mà Hồ Chí Minh v iết  ca ngợi Nguyễn Huệ đánh "giặc Tàu" được khắc trên bia nơi đền thờ vua Quag Trung ở Vinh năm 2008 đã bị lo ại bỏ thay bằng bài khác khiến không it người ngơ ngẩn.

        Ngày trước, trên những tấm bia công, chỉ những ai bị qui tội thì tên tuổi và những di ngôn mới bị đục bỏ. Vậy, vì sao những tên tuổi Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh, những câu sử ca của cụ Hồ bị đục bỏ?

       Những ai dám ra cái lệnh ấy?

        Có người biện giải rằng: Để giữ tình hoà hiếu với nhà cầm quyền Bắc kinh. Vậy chứ người Pháp không được ca ngợi Jeanne d!Arc để giữ tình hoà hiếu với nước Anh, không được nói động đến Hitler để giữ tình hoà hiếu với nước Đức chăng?! Lại nữa, nước Pháp, nước Hoa Kì, nước Nhật nay là những nước đối tác, “nước bạn” của nước ta, vậy mà trên sách báo chính qui có cấm nói đến tội ác xưa của thực dân Pháp, đế quốc Mĩ, phát xít Nhật đâu! Vả lại, chính những người cầm quyền TQ ngày nay vẫn tự tách mình ra khỏi bọn “phong kiến nước lớn TQ xưa” kia mà! Chẳng phải thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai lần đầu đến Hà Nội đã đích thân đến lễ tại đền Hai Bà Trưng đó sao? (một hàm thiện ý: thay mặt các tiền nhân Tô Định, Mã Viện,... tạ tội trước hai Bà). [Thực ra, cũng chỉ là “diễn trò” mà thôi. Sau này, nhất là từ khi chiếm được cái ghế thường trực Hội đồng Bảo an LHQ của Trung Hoa dân quốc (Đài Loan), -trong đó đã lợi dụng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân VN-, bộ mặt đế quốc-thực dân “siêu mới” của chủ nghĩa bá quyền Đại Hán ngày càng lộ rõ]

       Có người nói: TQ với VN nay là “đồng chí”, là chung ý thức hệ thì cũng nên “vuốt mặt nể mũi”. Chao ôi! Cái “trận tuyến ý thức hệ” ngày trước từng chia thế giới, -cả chia từng dân tôc, từng gia đình, thậm chí từng mỗi con người nữa, thành hai phe, ngày nay có chăng chỉ còn là cái cớ trưng ra bên này, bên kia (đảng phái này, đoàn thể nọ, nước anh em, mặt trận chống cộng... ). Còn cái chính chi phối, nói rộng ra thì là cái tinh thần “vị dân tộc”, “vị tôn giáo”, mà nói hẹp lại thì là “vị quyền lợi” của bản thân, của gia đình, của phe nhóm! Cứ cái cách Đặng Tiểu Bình rêu rao ở Bangkok “VN là một lũ côn đồ” và xua hàng chục vạn quân đi xâm lược VN “dạy cho một bài học” năm 1979 thì “còn tình (đồng chí) đâu nữa mà thù (đối thủ) đấy thôi” (Truyện Kiều)!

         Vậy thì vì cái gì? Chắc là trong thâm tâm các vị đều tự biết, phe nhóm lợi ích của các vị cũng đều tự biết. Chỉ xin đừng vì tự đánh mất mình mà đánh mất những thứ quí giá của dân tộc.

       25-7-2011

 

 

K.N.

GHÊ THAY MÀ CŨNG BUỒN THAY ...

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

Ghê thay mà cũng buồn thay một dạng ỳ tư duy!

 

        Gần đây đài truyền hình Hải Phòng có thuật lễ rước thanh đại đao của Mạc Đăng Dung vào nhà thờ họ Mạc. Chuyện này cũng bình thường thôi chẳng có gì đáng nói. Gia dĩ, nếu quả thật đây là thanh đao từ thế kỉ 16 thì là một cổ vật, cần lưu giữ. Điều cần nói là mấy chuyện sau đây:

       + Trong lời thuật, để so sánh, có dẫn thanh đại đao đời Tam quốc bên Tàu; chuyện này cũng thường nếu đừng nói “Quan công” thay vì Quan Vũ. Cách gọi “tôn xưng” ấy là do dân “mê” ta chịu ảnh hưởng của người Tàu sùng bái ông “thánh Quan” có tài trị tà ma. Bên TQ thời hiện đại người ta vẫn viết trên sách báo là Quan Vũ đúng tên cúng cơm. Rát lạ là trong khi nêu tên Mạc Đăng Dung đúng theo tên cúng cơm (là lẽ thường đối với một nhân vật lịch sử, ngay cả đối với những người đáng tôn kính) thì lại gọi họ Quan theo tên tự (Vân Trường) rồi lại, thậm chí, Quan công!

        + Cũng trong lời thuật, nhiều lần nói “đức Thái tổ” để chỉ Mạc Đăng Dung. Người ta chỉ dùng từ “đức” với những vị như Trần Hưng Đạo,... Cũng có thể dùng từ này với Thái tổ nhà Lí (Lí Công Uẩn), Thái tổ nhà Lê (Lê Lợi). Thái tổ nhà Mạc có thể sánh với hai vị kia ư?!

        Theo thiển ý, không nên lên án Mạc Đăng Dung về việc cướp ngôi nhà Lê như nhiều sử gia xưa; bởi, dẹp bỏ bọn cầm quyền đã đến hồi thối nát là không có tội, nếu không là có công. Tội lớn của Mạc Đăng Dung là đã tự trói mình quì mọp ở cửa ải dâng sổ sách đầu hàng ngoại bang (nhưng vẫn xin được giữ ngôi vua) làm nhục quốc thể, và cắt đất của Tổ quốc đem dâng giặc, trong đó có những đất mà Lí Thường Kiệt đã phải kiên trì đấu tranh với nhà Tống mới đòi lại được. Rõ ràng, chẳng vì nước vì dân gì cả, mà vì quyền và lợi của cá nhân, gia tộc, phe nhóm. (Đây là tội của Mạc Đăng Dung, không lây đến con cháu. Hơn nữa, như Mạc Đăng Doanh làm vua cũng có công làm cho đất nước ổn định một thời gian).

        Ta vẫn thường nghe nói báo chí (của ta), trong đó có các đài phát thanh, truyền hình, là công cụ tuyên truyền, hướng dẫn, thậm chí giáo dục dân chúng, là món ăn tinh thần, v.v... Lẽ nào lại để cho dân “ăn” những thứ như kia!

 

Đầu tháng 6, 2011

 

"Nghịch lí" chăng? (tái biên)

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

“N G H Ị C H  L Í”  C H Ă N G ?

-phiếm đàn-

 

        Nghịch lí ở đây không hẳn chỉ là “trái khoáy” mà còn như là khó tin, như là “nghịch nhĩ”.

        Tuổi trẻ cuối tuần số 44 - 2008, có hai bài gây cộm cho người đọc:

         1/ Trong bài Trung Quốc đã khai sinh nền văn minh phương Tây? giới thiệu cuốn sách mang tên “1434” của tác giả Anh Gavin Menzies xuất bản tại Mĩ tháng 6-2008 nói về chủ đề trên, có chụp in lại tấm bản đồ, ghi chú bằng tiếng Pháp, hành trình của Trịnh Hoà đi từ Nam kinh năm 1431, qua biển Đông, vào Ấn Độ dương đổ bộ lên Ấn Độ và Ba Tư, vào Hồng hải ghé La Mecque (Ả rập Xê út), rồi qua Địa Trung hải ghé Le Caire (Ai Cập), trước khi đến Florence (Ý). Điều rất “kì khôi” là đoàn tàu hơn 100 chiếc, chở hơn 20. 000 người có thể vượt qua eo đất rộng xấp xỉ 100 km nối châu Á với châu Phi, nơi mà mấy trăm năm sau người ta mới đào kênh Suez! (Thời ấy, Vasco đe Gama từ châu Âu đến Ấn Độ bằng đường biển phải đi vòng qua mũi Hảo Vọng ở nam châu Phi). Chẳng lẽ người Tàu vốn quen chiến thuật “biển người” đã hè nhau khênh bộ cả tàu, cả trang thiết bị, hàng hoá, cả vũ khí trong đó có cả đại bác,... vượt qua?! Riêng chi tiết này đã có thể nói lên nhiều điều về luận thuyết của cuốn sách. Chẳng hiểu sao sự thông thái tinh tế của người Anh, sự uyên bác rạch ròi của người Mĩ lại có thể bỏ qua một chi tiết như vậy!

        Và, tờ báo khá nghiêm chỉnh TuổiTrẻCuốiTuần  lại “ăn theo” một thông tin kì cục thế kia? (Dẫu có đặt dấu “?” vào cuối tên bài viết thì người đọc vẫn cảm thấy người viết bài giới thiệu này, cả ban biên tập tờ báo nữa, chẳng mấy hồ nghi. -Nếu không thì sao lại dành mấy trang báo quí giá cho nó!)

         2/ Bài “Phải làm hay chứ không làm lớn thuật lại cuộc phỏng vấn nghệ sĩ Thành Lộc có chỗ nghệ sĩ này cho biết  “khi dựng vở Trần Quốc Toản ra quân, có ý kiến (của nhà quản lí nghệ thuật ) đề nghị chúng tôi đừng cho nhân vật Trần Quốc Toản kề sát gươm vào cổ tướng giặc Sài Thung vì... nhạy cảm”.

        Chao ôi! Vì “nhạy cảm”, tế nhị, hay vì khiếp nhược, đớn hèn?

        Quị lụy, cầu cạnh, vuốt ve, nịnh bợ, mua chuộc, đối với bạn hay đối với thù đều đem lại, chí ít là, sự coi thường mà thôi! Hồ chủ tịch từng nói: Ta càng nhân nhượng thì giặc Pháp càng lấn tới. Với kẻ thù là vậy. Đối với bạn, hoặc coi là bạn, ngay chỉ mới là sự nhân nhượng vô nguyên tắc cũng đã dẫn tới sự coi thường. Mà đã bị coi thường thì “còn tình đâu nữa là thù đấy thôi”(Truyện Kiều).

        Không chỉ là chuyện làm nghệ thuật như nghệ sĩ T.L. nói đâu!

        Có phải là do “chủ trương của trên”?

        Có những chủ trương làm cho kiên cường lên; có những chủ trương khiến cho bạc nhược, hèn hạ đi! Thường là hiện rõ trên các phương tiện truyền thông đại chúng “chính qui” (Việc đánh Pháp, đánh Mĩ có thể đề cập thoải mái, dẫu các nước Pháp, Mĩ nay đang là đối tác về mọi mặt, là “nước bạn”! Còn chuyện Tàu xâm lược năm 1979, chuyện Bắc kinh chơi đểu, chơi ác từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn thì chớ! “Tinh thần này” phải được “thấm nhuần”, “quán triệt” đến mọi người, mọi nơi, mọi lúc! Cho đến đỗi một ông đại tá hồn nhiên khoe trên tập kỉ yếu một hội đồng môn, năm 2005, rằng: Trong một cuộc hội thảo ở Nhật, khi ông ta đề cập đến hoàn cảnh nước VN hiện đại đã phải đương đầu bốn cuộc chiến tranh xâm lược, một người TQ đã hỏi “4 là những cuộc nào?” và ông ta đã “khôn khéo” trả lời cuộc thứ tư là chiến tranh biên giới Tây Nam thay vì cuộc xâm lăng của TQ ở biên giới phía Bắc! Hẳn người Tàu này, dẫu không nặng đầu óc bá quyền đi nữa, không thể nào coi trọng ông đại tá VN, không thể không đặt dấu hỏi về cốt cách người VN qua con người này!).

 

        Hai mẩu chuyện trên chứng tỏ cái “oai” của “thiên triều” cả ở tầm “vi mô” lẫn ở tầm “vĩ mô”. Nó không chỉ tác động lên người của nước lân bang bé nhỏ khiêm nhường là chúng ta mà còn có thể khiến người của các cường quốc ở xa cũng có khi chịu (nhắm mắt) tôn vinh ảo. Nó không chỉ tỏa bóng lên hình ảnh của tên tướng giặc trên sân khấu mà còn phủ bóng lên vấn đề hệ trọng như nền văn minh phương Tây! (Nhưng nếu vin vào đây mà rằng: “Đến Tây còn phải lấy lòng Tàu, hà cớ gì ta không nhún nhường trước những người vừa là đồng chí vừa là anh em” thì ngay con nít Philipin, Inđonexia, ... cũng có thể cười cho đấy!)

 

6 - 2011

Việt Nam đâu phải là con giun!

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

VIỆT NAM ĐÂU PHẢI LÀ CON GIUN!

-ý mọn của một công dân bé mọn-

 

         Mấy ngày nay nhiều phương tiện truyền thông đại chúng ở nước ta công khai lời phản đối các tàu của Trung Quốc trắng trợn xúc phạm (dằn mặt) tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ngay trên vùng biển của ta (trên báo đảng CS không thấy đăng lên trang nhất, như nhiều người chờ đợi, mà ở trang cuối “thời sự quốc tế”!). Không ít người thở phào: “Vậy là đã được phép. Ờ, con giun bị xéo lắm cũng phải oằn!”. Nhưng Việt Nam nào phải là con giun!

        Trong suốt chiều dài lịch sử, nước ta nhiều lần bị các thế lực tàn bạo Tàu, Tây ức hiếp, xâm phạm. Cha ông ta có lúc hòa hoãn, nhân nhượng, song không bao giờ bán rẻ lợi ích dân tộc, không bao giờ ươn hèn chịu đựng, không bao giờ là “con giun”. Thời nhà Trần, để cảnh tỉnh nhân tâm khỏi ảo tưởng về sách lược hòa hoãn, đại vương Trần Hưng Đạo đã viết bài “hịch tướng sĩ” nổi tiếng.

        Ngày nay, có lẽ cũng cần những bài “hịch” như vậy. Dẫu sao thì cũng đã có sự khởi đầu. Mong và tin rằng nhà cầm quyền nước ta sẽ có cách ứng xử xứng đáng với tiền nhân, xứng đáng với dân, với nước.

        Chỉ xin được mạo muội nêu ra mấy e ngại sau đây:

        -E ngại rằng có ai đó (hi vọng là rất ít thôi) vì muốn bảo vệ “chủ nghĩa xã hội” mà không muốn làm phật lòng Bắc Kinh. Nhớ xưa, theo hồi kí của cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ, sau các biến động ở Đông Âu và sự kiện Thiên An môn năm 1989, (cố) Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trương phải hoà với BK, nhân nhượng họ trong vấn đề Campuchia để cứu lấy chủ nghĩa xã hội. [Hẳn ông cho rằng giới cầm quyền TQ cũng đang lo cho tiền đồ của chủ nghĩa xã hội; song kẻ mọn này ngay ngày ấy cũng đã nghĩ rằng họ chỉ lo cho cái “chủ nghĩa xã hội kiểu TQ” thôi, có nghĩa là lo giữ cái quyền thống trị dân TQ và quyền bá chủ thiên hạ (TQ chăn dắt bốn phương như thể hiện trên quốc kì của họ); để bảo vệ CNXH, các nước XHCN còn lại có cần TQ không? chứ TQ chẳng cần ai cả! Cuốn hồi kí Trần Quang Cơ cũng đã cho thấy bộ mặt thật của Bắc kinh đằng sau cuộc thương thảo]. Cố TBT Nguyễn Văn Linh thuộc số vị lãnh đạo không bị dân “phàn nàn” về mặt liêm khiết; hẳn ông thật sự muốn bảo vệ chủ nghĩa xã hội (ở đây không bàn cái CNXH hiện thực như thế nào), chứ không như những ai đó coi CNXH chẳng qua là một thứ “phương tiện” cho quyền và lợi của mình, gia đình mình, “nhóm lợi ích” của mình.

        -E ngại rằng có ai đó, nhóm những ai đó (cũng hi vọng rằng không nhiều) chẳng tin giữ quyền được mãi, cái lo trước mắt của họ là chuẩn bị cho lâu dài: vơ vét của cải gửi ra nước ngoài, cho con “du học”,..., chứ Bắc kinh lộng hành thì chẳng động gì đến mình (!).

        (Xin kể một chuyện ngoài lề một chút. Bữa nọ, một vị sống khá ung dung nói rằng: ai tham nhũng ở đâu kệ họ, chẳng can gì đên mình. Tôi nói: “Nếu không hậu quả nhãn tiền thì cũng là các thế hệ sau lãnh đủ”. Ông ta thản nhiên: “Hai con tôi đều định cư ở nước ngoài cả”. Vậy đó!).

       -E ngại rằng có ai đó (e là hơi nhiều) cho rằng hãy cứ để trên lo, chớ mà “gái góa lo viêc triều đình”, như từng được phán truyền chính thức cách đây chưa lâu lắm.

        Rất mong những e ngại vậy là thừa! là “lo bò trắng răng”!

 

31 / 5 /2011

Sông Phố (bản mới)

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

S Ô N G  P H Ố
-truyện ngắn-

 

        Tôi bên bờ sông Phố. Con sông nhỏ khiêm nhường len lỏi chảy giữa mấy giải núi đồi và đồng bằng hẹp của huyện Hương Sơn. Nước sông trong xanh, trừ mùa lũ. Sông nom hiền hoà song nhúng tay vào cảm thấy ngay rằng nó không hề lặng lẽ. Con sông sinh ra trong dãy Giăng Màn (Trường sơn) từ những dòng suối cực nhọc trườn theo những lạch quanh queo đầy sỏi to và cả đá tảng, nơi có những con tôm to cỡ ngón tay út người lớn và một loại cá hình như không có ở nơi nào khác, gọi là cá mát, thường dài chừng hai gang tay, ngày trước người ta thường kẹp dọc bằng hai thanh nứa nướng lên đem bán chợ hoặc bán rao các làng ; cá ấy mà kho nước mắm rắc tiêu thì một lần ăn có thể thành nỗi nhớ. Sông Phố chia đôi cái huyện bán sơn địa từ tây sang đông, ra khỏi huyện gặp sông Sâu hợp thành sông La thơ mộng, một phụ lưu của con sông Lam hùng tráng. Hội nhập với biển cả, hầu hết các dòng sông miền Trung đều vội vã. Màu xanh cây đại ngàn và màu xanh biển khơi vẫy nhau chẳng để chúng nhẩn nha.

        Tuổi thơ tôi gắn với con sông Phố. Nó là gương soi của tôi. Nó là cái nôi du hí của tôi. Nó là tâm hồn tôi. Tôi vẫy vùng trong lòng nó, cảm nhận cái sức sống không ngừng, không mỏi của nó hướng về biển rộng. Anh tôi bảo: “Mi như con cá, khéo lại lặn luôn dưới đó”.  Không! Nếu là cá, tôi chẳng đời nào chịu nằm yên dưới đáy sông.

        Tiếng sông trôi trong đêm thanh vắng khi thầm thĩ, khi rào rạt, vọng không gian và vọng thời gian. Những chuyến đò dọc một thời xuôi chợ tỉnh, tiếng thuyền rẽ nước làm nền, tiếng chèo khua làm nhịp cho những câu hát đò đưa :

          “Anh đến giàn hoa thì hoa kia đã nở

          Anh đến bến đò thì đó đã sang sông

          Anh đến em thì em đã lấy chồng

          Em yêu anh như rứa, hỏi mặn nồng đấy chi !”.

 

          “Anh nờ! Hoa đã đến thì, hoa kia phải nở

          Đò đã đầy thì đò phải sang sông

          Em đến duyên thì em phải lấy chồng

          Em yêu anh được rứa đã mặn nồng chớ chi?”

        Có khi khuya lắng tưởng chừng vạn vật đều đã ngủ mê mệt, chợt mơ hồ nghe xao động tiếng gươm khua, trận chiến nghĩa quân Lê Lợi-Nguyễn Tuấn Thiện từ động Tiên Hoa (làng Phúc Đậu) kéo ra phục binh tiêu diệt giặc Minh trên đoạn sông dưới chân Rú Vằng (Kim Sơn).

        Nhiều đêm tôi nằm trên gò đất cạnh sông ngắm trời sao thầm nghe sông rì rào chuyện cũ.

        Ngày xưa, một nho sĩ rời bỏ một miền trù phú xứ Bắc, rời bỏ thị thành, từ chối ân huệ của chúa Trịnh, ngược dòng sông này tìm về quê mẹ tích đức và trau dồi tài năng trở thành lương y đúng nghĩa, để lại cho đời một kho y đức và y thuật.

        Ngày xưa, có vị Chưởng quân xuất thân dân cày của miền sông Phố cho lập xưởng rèn hướng dẫn các thợ lành nghề chế những khẩu súng trường dựa theo những khẩu tước được của kẻ địch. Ông bất đắc dĩ rời cái cày để trở thành tướng lĩnh trụ cột của quân Cần vương Phan Đình Phùng.

        Ngày xưa, có anh học trò nghèo mang lều chõng xuôi sông này đi thi hương trường Nghệ đỗ cử nhân, rồi vào kinh thi hội và thi đình đỗ Hoàng giáp.

        Ngày xưa,  những ngày sau Cách mạng tháng Tám, có những người trai chân đất, với gậy gộc, giáo mác và mấy khẩu súng táp nham, men sông này ngược lên biên giới Việt-Lào tiến đánh một đồn binh giặc. Và, một người đã ngã xuống, người liệt sĩ đầu tiên của miền Bắc kháng chiến chống Pháp.

        Ngày xưa, một trong “mười cô gái ngã ba Đồng Lộc” đã gánh nước sông này, những gánh nước cuối cùng cho mẹ, trước khi lên đường trở lại trận địa chống chiến tranh phá hoại của Mĩ và không bao giờ trở lại.

        Ngày xưa, những bến sông bình thản và hắt hiu chiều chiều các cô gái ra gánh nước hay giặt giũ trắng cả một khúc ven sông.

        Ngày xưa...

        Sông Phố vẫn là sông Phố tự thuở nào đêm ngày tuôn nước về đông. Dấu tích lịch sử ở lại. Kí  ức tuổi thơ, kỉ niệm đời người ở lại. Và đói nghèo quẩn quanh. Sông có mang theo ước mơ của con người?

        Con ngưòi lưu vực sông lầm lũi sống, cực nhọc sống, mặc nhiên sống. Dăm ba năm một lần hoảng kinh: nước sông dâng ngập xóm làng băng băng, cuồn cuộn cuốn theo những gì không lánh kịp, hoặc không lánh được, cả cây cối, cả hoa màu, cả vật nuôi, thậm chí cả nguyên ngôi nhà gỗ, và cả người! (Ngôi nhà tranh của cha mẹ tôi ngự lưng đồi con đã có lần nước lũ mò lên đến nửa cột cái).

        -Này, cô bé! Cô mơ ước gì đây?

        -Sông ơi! Sông có mong người ta gắn bó với mình mãi không?

        Ven sông  có những vùng “trù phú”, vườn tược, ruộng đồng,... Những bãi dâu, bãi màu  phơi phới trải dài nâng bước chân khách bộ hành, những chiều nắng xế. Nhất là những nương dâu ngút mắt bên sông. Hái dâu, chăn tằm, dệt lụa, nghe thật thích. Thích như một chị từng nổi tiếng, nổi tiếng vì nhan sắc, càng nổi tiếng hơn vì những tấm lụa chị dệt nên, một thời...

        Ờ, một thời! Sướng vui nhỏ nhoi, kì vọng lụn vụn. Bao giờ... ?

        Nhà máy in bóng xuống dòng sông. Và...

        Công trình kiềm chế cơn hung dữ của sông. Và...

        Tôi gom tình thân thương, lòng ước vọng xung quanh con sông Phố gửi vào bài văn dự thi  “viết về quê hương” dành cho học sinh trung học.

        -Nhưng cô bé ơi! Giờ cô ít ngắm dòng sông, bãi bờ,... Mắt cô hay dõi ra xa.

        Đường số Tám, con đường liên quốc gia băng qua huyện, nay ít lượn theo triền sông, thênh thang, láng bêtông nhựa, con đường thiên lí từng vào loại đẹp nhất nước. Xe nhớn, xe bé cứ là vi vu. Nhưng con đường có vẻ lạc lõng một cách đáng thương. Chỉ có thị trấn-huyện lị ngự bên hữu ngạn sông rõ là “thay da đổi thịt” theo, nhưng mang cái kệch cỡm của anh trọc phú và cái xô bồ của cung cách làm ăn vặt và xổi, kể cả buôn lậu xuyên biên giới. Hôm kia, một chiéc xe con sang trọng đi từ một nơi xa về vượt cầu Tam Soa,-cửa ngõ vào huyện Hương Sơn, lon thon chạy. Xe lướt đi một đỗi, giây giây lại lăn bánh chầm chậm. Người ngồi sau tay lái đang thẩm lại cảnh cũ, đường xưa. Đến một khúc đường gần sát vào sông Phố, người ấy dừng xe xuống bến khoả tay vào nước sông, khum hai bàn tay chụm lại múc nước toan đưa lên rửa mặt nhưng rồi lại thả ra. Nước sông nhìn vẫn trong suốt mà mặt người nay đã khác, ngộ nhỡ... !  Dường như người ta đang dọn đường cho một vụ “vinh qui”  kiểu mới.

        Tôi cũng đã một lần vinh qui nhỏ, nhỏ tí ti. Ấy là lần tôi lên tỉnh lĩnh giải cuộc thi viết về quê hương. Tôi được giải nhì. Bài của tôi được một tờ báo trung ương đăng lại, như một sự khích lệ, như một ân huệ.

        Nhưng, tôi thi vào đại học trượt. Mấy hôm liền không nghe tiếng sông chảy.

        -Này, cô bé! Cô nghĩ là sông sẽ mừng ư ?

        -Tôi đã định mang theo hình bóng sông vào trường đại học. Tôi đâu dễ rời xa sông. Bây giờ thì tôi muốn ra đi mà chẳng hẹn gì với sông cả.

        Và tôi đã ra đi. Một nhà văn về thăm quê bên dòng sông Phố ; đã lâu lắm, sau cái lần được tiếng là nhà văn. Ông gặp tôi ở bến sông. Nhà văn sững người. Cái nhìn của ông chỉ khác cái nhìn của đám con trai mỗi khi họ gặp tôi ở chỗ “một chút bề trên”, một chút thôi. Rồi hỏi thăm đường. Rồi lân la chuyện trò. Tôi chưa gặp ai giỏi chuyện như thế, kể cả người thầy giáo mà suýt nữa nếu không vì rất kính mến thì tôi đã yêu.. Nhà văn về quê chỉ hơn một ngày nhưng đã kịp biết tình cảnh của tôi, nhất là đã có thể bảo: “Em có khiếu viết văn đấy. Được dìu dắt thì có thể bay cao, bay xa”. Ông là nhà văn số một tại địa phương ông đang công tác, ông cho tôi biết vậy chẳng phải để khoe khoang, -khoe với một con bé nhà quê thì được ích chi! Ông quen biết rộng, người ta rất nể ông. Vậy là tôi đi với ông.  Gác ngoài tai tiếng lào thào của sông Phố.  “Cha hắn ngày trước cũng thích léng phéng với gái tơ . Mẹ hắn lừa lúc gã nằm võng mới cuốn chặt võng lại tẩn cho một trận”.-Cha tôi thủng thẳng bảo. “Ông chỉ thành kiến vớ vẩn. Chuyện ấy là dưới thời Pháp. Bây giờ là thời nào? Anh ta lại là nhà văn”.-Mẹ tôi nói, chẳng thủng thẳng chút nào.

        Tôi qua đò sông Phố, cùng ông nhà văn. Tôi nghiêng người lấy tay vã nước lên mặt. Nước sông mát lạnh không làm dịu bớt cái chộn rộn trong tôi lúc đó.

        * * *

        Hôm nay tôi lại ngồi bên sông Phố.

        -Này cô bé! Chẳng phải là  “nước đi ra biển lại mưa về nguồn” đâu nhỉ?

        -Có thể tìm lại chính mình ở đâu?

        -Thế cô đánh rơi ở đâu?

        Ở đâu nhỉ? Tôi đã có những giờ phút tưởng chừng như mọc cánh. Ông nhà văn quả có tài giao thiệp. Ông quen các quan chức; ông quen các doanh nhân có thế lực; ông quen cả những người thường nhưng “tiềm năng”.  Em hãy làm tạm chỗ này. Để sinh sống và để có vốn sống. Vốn sống là điều cốt tử của nhà văn. Tương lai của em, cái chính là viết văn, vượt lên cái đích kiếm sống đời thường. Làm nhà văn tôn vinh quê hương hơn mọi thứ “nhà” khác. Tranh thủ mà viết!  Tôi viết như lên cơn. Ông tận tình chỉ vẽ. Bài của tôi được đăng. Ban đầu trên tờ báo địa phương ông làm biên tập viên. Rồi cả trên báo trung ương, ông đưa lên. Rồi tôi được giải thưởng trong một cuộc thi truyện ngắn của một tờ báo phát hành rộng. Truyện về một người con gái rời quê hương đi xa, lòng vẫn đau đáu dòng sông tuổi nhỏ, nhưng cương quyết không lơi hoài bão, không quay đầu lại. Vậy là được giải. Tên tôi cùng hàng với tên một số nhà văn có “mác”. Ông khao tôi trong phòng riêng của ông trên gác xép toà soạn; mình ông ở đó. Thỉnh thoảng ông mới về nhà, ngay trong thành phố. “Anh cần khoảng sống riêng”. Tôi xưng “cháu” gọi “chú”, ông bảo văn nghệ sĩ là không  nệ tuổi tác.

        Hôm đó, tôi say vinh quang, tôi say men rượu, tôi say lời thổ lộ tâm tình. “Vợ anh chỉ được mỗi cái nấu ăn ngon. Kẻ nào nói đàn bà giữ đàn ông qua cái dạ dày chẳng phải là nhà văn. Anh nổi tiếng mà rất cô đơn. Anh cần người có thể hiểu mình, người cùng điệu tâm hồn. Vậy mới có tình yêu đích thực, mới thăng hoa tình yêu...”. Và tôi đã dâng hiến. Ít lâu sau, tôi đến thấy cửa phòng “anh” khóa ngoài. Thường thì phòng khoá trong, thò tay qua lỗ khoét trên cửa. Tôi nâng tấm che lỗ khoá nhòm vào. “Thần tượng” của tôi đang “đi thực tế” cảm hứng tình yêu tột độ vào “công đoạn” cuối với cô gái mà mấy hôm trước đã giới thiệu với tôi là em họ. Cảnh cao trào “chuyện ấy”, người ngoài cuộc thấy “ghê” làm sao! Sàn gỗ dưới chân tôi dập dềnh như ván lót con đò ngang sông Phố hôm tôi ra đi.

        -Tôi có để rơi không nhỉ?

        -Cô bé ơi! Hãy phả nước sông vào người. Đánh mất mình như để rơi một món đồ chẳng dễ đâu, nếu còn biết ân hận. Không còn như cũ lại là chuyện khác. Phải vậy thôi. Sông cũng không còn như xưa...

        Có phải chuyện vắng những chuyến đò dọc, con sông trầm mặc và cô quạnh hẳn đi? -Thời “tốc độ chóng mặt” ai còn xuôi ngược trên những con thuyền gỗ chèo chống bằng tay nữa! Hãy thôi mơ màng chuyện cũ!

        Hay là chuyện lở bồi? –Cũng là lẽ thường, kể cả chuyện hơi khác thường nơi cái vực sâu hút dưới chân Rú Vằng, cái vực mà ngày trước truyền lại rằng nó thông với cái “hốc thuồng luồng” giờ đã cạn trong một làng cách chừng nửa cây số, nay nhô lên một bãi nổi như là mô hình thu nhỏ của chuyện “biển Đông biến thành nương dâu”.

        Chuyện là con người đang muốn bớt thụ động đi. Người ta đang tính đắp một cái đập...

        Một cái đập! Tôi từng mơ một công trình cải tạo sông Phố và một cơ ngơi thuỷ điện.

        Song, tôi cũng muốn sông không mất đi cảnh sắc hoang sơ vốn là một phần của duyên dáng sông Phố.

        -Này cô bé! Cô đâu còn mang tâm hồn hoang sơ?

        Giữa vùng hoang vu gần đầu nguồn sông Phố, khu nghĩ dưỡng Nác Sốt (Nước Nóng) đang như là một mầm hoa lệ...

        Phải! Hoa lệ hoá, văn minh hoá, và vân vân. Nhưng cầu trời đừng “hoá” những cái như sân gôn, chẳng hạn! Từ lâu, người Nhật thà mỗi cuối tuần đáp máy bay sang châu Âu chơi gôn chứ không đành xây sân gôn trên đất nước họ.

        Tôi về bên sông Phố.

        Dẫu rồi ra tôi sẽ xa sông Phố...

 

Hải Phòng, 4/2004 – 11/2008

  

 

 

 

 

 

 

 

"Thương hiệu Việt" ư?

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

“THƯƠNG HIỆU VIỆT” Ư?

-bàn góp-

 

        Nước ta chưa có truyền thống lập thương hiệu, quảng bá thương hiệu, bảo vệ thương hiệu,... Điều này rất bất lợi trong làm ăn, nhất là khi phải cạnh tranh nhiều lúc khốc liệt. Có những mặt hàng Việt Nam khá có uy tín đã bị “cướp” thương hiệu ở Trung Quốc, ở Nhật, ở Mĩ,... Có những trường hợp đã đấu tranh đòi lại thành công; cũng có những trường hợp mất hẳn hoặc chưa ngã ngũ. Nhiều mặt hàng trong nước khó tạo thương hiệu vì thiếu điều kiện hoặc chưa biết cách; không kể một số doanh nghiệp chưa mấy quan tâm. Do vậy, cần khích lệ doanh nghiệp Việt Nam chú trong tạo thương hiệu, củng cố và phát huy thương hiệu. Đáng tiếc là thói “ăn theo” thương hiệu của người ta trong buôn bán, trong sản xuất. Vậy mà lại có cơ quan thông tin lại tán dương kiểu làm ăn đó! Có phải họ cũng đang “ăn theo” những kẻ ăn theo?

        Một lần, đọc ở báo Lao Động cuối tuần số 30/2009 thấy có bài "Điện thoại di động thương hiệu Việt đang trỗi dậy" mừng quá! Vậy là Việt Nam ta có cả thương hiệu ở mặt hàng kĩ thuật cao rồi! Nhưng đọc xong  xìu luôn.

        Thì ra, thương hiệu Việt (THV) "ghi đậm dấu ấn của doanh nghiệp Việt Nam (DN VN)" ở chỗ "không đơn thuần chỉ là mua máy tại các chợ ở Thâm Quyến và dán nhãn lên" và "không chỉ chọn lựa kĩ đối tác cung cấp sản phẩm" "mà còn can thiệp vào quá trình thiết kế sản phẩm, thổi vào thương hiệu một triết lí kinh doanh(!) sống động (tán dương kín để quảng cáo khéo thật! –K.N.)..." (những chỗ trong ngoặc kép là trích từ bài báo nói trên, -trong đó, in nghiêng hoặc chú thêm là do K.N.). Nghĩa là cái chính vẫn là hàng của người Tàu sản xuất có chiều ý của người mua trực tiếp là DN VN (về bán lại cho người tiêu dùng -NTD- trong nước).

        Điều này quả có làm cho NTD an tâm hơn là xài các thứ hàng tuồn vô tội vạ qua biên giớí. Và, tất nhiên là DN kinh doanh phát đạt hơn. Điều rất quan trọng là giúp cho các nhà sản xuất TQ nắm được thị hiếu khách hàng VN, loại bỏ các đối thủ cạnh tranh!

        Bài báo đe trước (để rào trước): "Có luồng ý kiến thiếu thiện chí bắt bẻ: ‘ĐTDĐ THV thì cũng là của TQ cả thôi?' ". "Bắt bẻ" vậy sai ở chỗ nào? "Thiếu thiện chí" ở chỗ nào?

        Ai bảo đồ sứ kí kiểu trước đây là sản phẩm VN?!

        Bài báo có so sánh với "các đại gia Nokia, Samsung hiện giờ cũng sản xuất nhiều tại Trung Quốc". Song, lại lờ đi rằng: các "đại gia" này chính là đang đầu tư vào TQ, chứ chẳng phải là mua hàng về "dán nhãn lên" như cái kiểu: xe đạp Việt Nam xuất sang châu Âu là mua của TQ về rồi dán nhãn lên (theo Nguyễn Xuân Nghĩa trả lời RFI đăng lại trên bauxitevn ngày 29/5/2011)!

        Như vậy thì dù THV có "trỗi dậy" đến đâu đi nữa, sự thực là vẫn chưa có sản phẩm VN trong lĩnh vực này!

        Dường như bài báo chỉ có lợi cho quảng cáo bán “ĐTDĐ THV” (điện thoại di động thương hiệu Việt -viết tắt trong bài báo, -KN) hơn là đưa một thông tin có thể làm nức lòng người về một sản phẩm công nghệ cao "made in VietNam"!

        Nước ta không thể tự sản xuất mọi thứ, song nếu cứ tự hài lòng và phấn đấu để "phát triển" kiểu "ăn theo" lợi nhuận của người ta thì mãi mãi chỉ là kẻ bám đuôi!

        Chuyện này cùng nhiều chuyện khác, tỉ như đồ gỗ nội thất Trung Quốc bị người Mĩ phản ứng vì lấn lướt sản phẩm nội địa, người Tàu bèn đưa sang Việt Nam sản xuất, dán nhãn VN rồi bán qua Mĩ, v.v... , chỉ làm lợi cho “ông bạn 16 chữ vàng và 4 tốt” vốn đã tài mánh khóe làm ăn và tài khuynh đảo, còn dân VN ta thì vẫn lẹt đẹt mãi như thân phận những ai “theo voi ăn bã mía” và chịu cái cảnh trớ trêu “thằng còng làm cho thằng ngay ăn” mà ông N.X.Nghĩa đã ví von.

        Và, đáng “thương” thay! kiểu quảng cáo trá hình, không chỉ cho doanh nghiệp VN nhập hàng (hẳn là phải trả tièn) mà cả cho xí nghiệp TQ sản xuất mặt hàng (hẳn là không công)! “Chiêu” này, LĐCT còn sử dụng với những mặt hàng khác dưới chiêu bài “Thông tin kinh tế”.

        Báo Lao Động là “ai”? -Là “cơ quan” (ngôn luận) của một tổ chức bao trùm người lao động. Vậy đó!

5 - 2011

Ý mọn của một công dân

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

ĐỂ ĐƯỢC LÀ “CƠ QUAN QUYỀN LỰC CAO NHẤT”...

 

        Cả nước ta đang rôm rả về bầu cử quốc hội, -cơ quan quyền lực cao nhất nước, trên các phương tiện truyền thông đại chúng chính qui.

        Để quốc hội được là cơ quan quyền lực cao nhất, điều sơ đẳng là phải có đa số các ông, bà nghị không “gật”. Quốc hội khoá 12 sắp mãn nhiệm được coi là “cởi mở” nhất kể từ quốc hội khoá đầu tiên. Có hai phủ quyết:  dự án đường sắt cao tốc và dự luật thủ đô bị bác bỏ. Không nhiều! Một số đại biểu đã có những ý kiến “ra ngoài luồng”. Cũng chẳng nhiều, có thể đếm trên đầu ngón tay.

        Sực nhớ một câu chuyện “nhỏ”. Dạo ấy, tôi đang dạy ở trường nọ. Theo chủ trương của trên, trường bầu ra một ban thanh tra (nhân dân). Ban cử một cô giáo đang là đại biểu quốc hội (ĐBQH -cô được trên tín nhiệm cho được bầu vào quôc hội ba khóa liên tiếp) làm trưởng ban. Một lần, tôi nói với bà trưởng ban: “Ban thanh tra chẳng qua là một thứ trang trí dân chủ nhưng anh chị em đã bầu ra thì cũng nên ngọ ngoạy một tí. Hiện nay, nhiều người đang có ý kiến về xưởng trường, vậy nên hãy “thanh” xem sao”. Bà trưởng ban nói: “Nhưng theo qui định phải được thủ trưỏng cơ quan đồng ý đã. Hay anh đi cùng em đên gặp anh hiệu trưởng đề nghị”. (Xin nói ngay rằng tôi chẳng là gì cả, không một chút cương vị cỏn con nào. Chỉ có điều là tôi không để cho việc ban danh hiệu thi đua và việc cho lên lương “khống chế” nên chẳng phải “giữ gìn” nhiều, có lẽ do vậy anh chị em mới bầu vào ban thanh tra dẫu họ cũng nghĩ như tôi cái ban ấy khó mà “tra” được chút gì). Tôi nói : “Vậy cô hẹn với anh ấy ngàỵ gặp đi!”. Mãi chẳng thấy gì, tôi hỏi thì bà trưởng ban cười mếu nói: “Em đã đề nghị gặp nhưng anh ấy gạt đi”. Tôi nghĩ thầm: Chẳng hiểu như thế này thì ở diễn đàn quốc hội cô ta thi thố ra sao!

        Tôi nghĩ vậy là thiếu “thầu tình đạt lí” với cô giáo ấy, bởi có nhiều ĐBQH có vai vế hơn cô ta nhiều mà xem ra họ đã “thi thố” được những gì? Ngẫm kĩ thì họ cũng có những cái khó. Chẳng hạn như vụ Vinashin, một số ĐBQH muốn xem xét trách nhiệm của thủ tướng và các thành viên chính phủ khác có liên quan, nhưng bộ chính trị của TƯ đảng đã quyết “không kỉ luật”, vậy còn được phép không? (Ở nước khác, với vụ việc nhỏ hơn nhiều, thủ tướng, tổng thống đã phải từ chức hoặc bị cách chức). Và, vậy thì làm sao để xứng danh “cơ quan quyền lực cao nhất”? Hãy nói trong pham vi “tuân thủ điều 4 của hiến pháp”, có cần một qui chế đàng hoàng về Đảng lãnh đạo không? Nếu quốc hội không được quyết (hoặc không còn gì để quyết) một khi đảng đã quyết thì quốc hội có còn là cần thiết nữa chăng? bởi nếu chỉ để triển khai (thực hiện) thì đã có chính phủ rồi! Còn thì “dám nói” như một số vị ĐBQH rất đáng hoan nghênh, làm cho cử tri đang theo rõi truyền hình trực tiếp “ấm lòng” hoặc “khoái”, làm cuộc họp đỡ tẻ, nhưng dường như chỉ đến vậy, chẳng tác động mấy đến các vị chuyên “gật”, nói chi đến các quyết sách vì nước, vì dân!

        Nghĩ như thế không biết có lẩm cẩm hay “ngu lâu” không?

 

O1 – 4 – 2011

 

Về một số ý kiến "truyền bá"

Chung Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

XIN ĐỦ NHỮNG LOẠI Ý KIẾN NHƯ VẬY

        

         Gần đây, bằng cách nào đó người ta gửi thư điện tử cho tôi muốn “truyền bá” một số ý tưởng mang màu sắc cực đoan nhưng lại núp dưới những mĩ từ như “hoà giải và hoà hợp dân tộc”, “truyền thống lịch sử”, ...

         Để thuyết phục người khác thì trước hết phải chính trực, công tâm, trung thực ngay với chính mình.
        Thử hỏi các vị có tin những điều mình muốn người khác tin không? Chẳng hạn:
        -"Chiêu hồi" của chính quyền miền Nam trước đây là "hoà giải, hoà hợp dân tộc" (chứ không phải là thủ đoạn chiến tranh chính trị)?
       -Pháp chính thức trao trả độc lập cho Bảo Đại năm 1949 (chứ không phải trao một thứ bánh vẽ lúc đang sa lầy trong cuộc chiến hòng chiếm lại Việt Nam và Đông Dương nói chung. Chính một thủ tướng của Bảo Đại, sau một văn bản kí kết thêm với Pháp, đã tuyên bố năm 1952: "Thế là nay ta đã được độc lập 50% (!) (nguyên văn tiếng Pháp: cinquante pour cent )?
       -Năm 1979 VN "khai chiến với TQ" (chứ không phải Trung cộng xâm lăng VN do nhiều ý đồ đối nội, đối ngoại)?
       -Cuộc chiến tranh Đông Dương là do Mao Trạch Đông khởi xướng và phát động (Chứ không phải xuất phát từ ý đồ của De Gaulle muốn chiếm lại các thuộc địa cũ, nuốt những lời đã từng tuyên bố ở Brazzaville lúc đang lưu vong  hồi chiến tranh thế giới 2 hứa sẽ giải thể thuộc địa -décoloniser)?
       -V.v...
       Những người VN thực sự yêu nước mong muốn nước nhà giàu mạnh để dân sướng, nước yên trước vô vàn thách thức trong thế giới ngày nay, nhất là đối diện với những tham vọng của kẻ láng giềng khổng lồ tham lam và xảo quyệt lại rất ngang ngược và hung hăng; không muốn bị thao túng bởi sự chuyên chế, bởi những "nhóm lợi ich riêng". Nhưng nếu ai cũng đeo đuổi ý đồ của mình, hay phe cánh của mình (ai đó nói rằng người Việt thuộc số người "nặng đầu óc xôi thịt" nhất, và chắc không chỉ có thế!) thì khó tránh được cảnh lộng ngôn và tung hỏa mù, lẫn lộn thật giả, tạo dịp cho cái giả đè cái thật.

       Không nên cố tình đảo ngược mọi giá trị, hay - dở, cách nay chưa lâu: đề cao những gì bị lên án hay đánh giá thấp, sổ toẹt những gì được đánh giá cao.        

       Không nên và không thể đánh tráo hay lộn sòng lịch sử.

Hải Phòng, 02 - 2011  

Design by JuliettaRose Studio. Powered by Vnweblogs